- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ––––––– Bản án số: 72/2020/HS - ST Ngày 31-12- 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Nhường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hoàn
Bà Hoàng Thị Tố Quyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Chinh - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2020, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2020/TLST - HS, ngày 17 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn Tùng, sinh ngày 20/3/1988.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm V, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Đức M (đã chết) và bà Nông Thị N, sinh năm 1965; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ là Triệu Thị Thao, sinh năm 1985, có 02 con chung (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2020, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên - bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Nông Thị N, sinh năm 1965/ có mặt.
Trú tại: Xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
* Ngƣời chứng kiến:
Anh Nguyễn Hồng H, sinh năm 1976/ vắng mặt.
Trú tại: Xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 45 phút ngày 11/10/2020, tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an xã H, huyện Đ tiến hành tuần tra, kiểm soát trên địa bàn xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện Bùi Văn Tcó biểu hiện liên quan ma túy. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại túi quần phía trước bên phải Tđang mặc 01 túi nilon màu đen, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine. T khai gói chất bột màu trắng nêu trên là Heroine của T. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của T01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE mang BKS: 20M7-5169. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.
Tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của T là 0,182 gam và lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định – ký hiệu A1.
Tại bản kết luận giám định số 1306 ngày 19/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine; có khối lượng: 0,182 gam.
Quá trình điều tra xác định được: Bản thân T nghiện ma túy từ năm 2019 đến nay nên thường xuyên mua ma túy về để sử dụng. Khoảng 10 giờ ngày 11/10/2020, Tđiều khiển xe mô tô từ nhà tại xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên sang khu vực chợ A thuộc xóm P, xã A1, huyện V, tỉnh Thái Nguyên với mục đích tìm mua Heroine về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ 01 (một) gói Heroine với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Sau đó, T điều khiển xe quay về đến gần cổng xóm Làng Hỏa, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì bị tổ công tác Công an huyện Đ và Công an xã H phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng nêu trên.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo xác định mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân, không có ý định bán lại kiếm lời và trước đó bị cáo cũng chưa bán ma túy cho ai. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị N (là mẹ đẻ của bị cáo T) đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bà chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA - WAVE, mang biển kiểm soát: 20M7-5169, đăng ký tên Bùi Văn T vì đây là tài sản chung của gia đình, tiền mua xe là của bà, do bà bảo T đi mua xe và đăng ký tên T để làm phương tiện đi lại cho gia đình. Ngày 11/10/2020 T lấy xe đi mua ma túy bà không biết.
Bản cáo trạng số 02/CT -VKSĐH ngày 17/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Bùi Văn T ra trước TAND huyện Đ để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Kết thúc phần xét hỏi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Điều 38 BLSHS xử phạt bị cáo Bùi Văn Ttừ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Văn Tùng.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, LK; tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA - WAVE, mang biển kiểm soát: 20M7-5169.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án, lệ phí buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, biên bản cân xác định trọng lượng và lấy mẫu giám định, Bản kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các chứng cứ tài liệu khác của vụ án được thu thập trong quá trình điều tra.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 11 giờ 45 phút ngày 11/10/2020, tại xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Bùi Văn T đang có hành vi tàng trữ 01 gói Heroine, có khối lượng 0,182 gam để sử dụng cho bản thân thì bị Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ một số vật chứng có liên quan.
Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Văn T đã phạm vào Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) ... Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể pH chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS viện dẫn ở trên.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn T là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng; xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp khiến dư luận quần chúng bất bình. Vì ma túy là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm, con đường lây nhiễm nhiều bệnh nan y, là nguyên nhân làm tan vỡ hạnh phúc gia đình. Mặt khác ma túy còn hủy hoại sức khỏe, kinh tế của chính người nghiện. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, vì vậy cần pH cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục thành người lương thiện, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung đối với mọi người.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó trong lượng hình, HĐXX đã có xem xét giảm nhẹ phần nào mức hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo mua ma túy về sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán cho người khác thu lời bất chính và bị cáo không có điều kiện, khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, LK. Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA - WAVE, mang biển kiểm soát: 20M7-5169, đăng ký tên Bùi Văn T, chiếc xe này bị cáo và bà Nông Thị N (mẹ đẻ bị cáo) khai tiền mua xe là của bà N, mục đích mua xe làm phương tiện đi lại cho gia đình. Ngày 11/10/2020 bị cáo lấy xe đi bà N không biết, bị cáo xin được trả lại chiếc xe cho bà N, bà N đề nghị được xin lại chiếc xe làm phương tiện đi lại. Xét đề nghị của bị cáo và bà N là có căn cứ nên trả lại chiếc xe cho bà Nông Thị N quản lý sử dụng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về nguồn gốc ma túy (Hêrôin) bị cáo khai mua ma túy của một người đàn ông không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ, do vậy cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước, theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bùi Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/10/2020.
Áp dụng Điều 329 BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1, LK.
- Trả lại cho bà Nông Thị N 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA - WAVE, màu sơn đen - đỏ, biển kiểm soát: 20M7-5169, số khung Y028003, số máy C43E-5032128.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2020 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện Đ;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- Công an huyện Đ;
- Chi cục THADS huyện Đ;
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
- Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên;
- UBND xã H;
- Bị cáo; người có QL & NV liên quan;
Đỗ Hữu Nhƣờng
- Lưu: HS, VP, T.H.A HS. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Hữu Nhƣờng
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên; - UBND xã H; - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Hữu Nhƣờng |