vanban.org

Bản án 72/2020/DS-PT — Tranh chấp đất đai

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 13/07/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/07/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn!cứ: Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 265, 688 Bộ luật dân sự năm 2005; Đi u!105!Lu t!Đ t!đai! năm!2003,!kho n!1!Đi u!203!Lu t!đ t!đai!năm!2013;!Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày …

Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Tô Văn S; Giữ nguyên bản án sơ thẩm. 1/- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Văn S về việc yêu cầu ông Tô Văn T giao trả diện tích đất liền kề 57m2.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Sanh - Thi"
  • Tòa quyết gì? Căn!cứ: Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 265, 688 Bộ luật dân sự năm 2005; Đi u!105!Lu t!Đ t!đai! năm!2003,!kho n!1!Đi u!203!Lu t!đ t!đai!năm!2013;!Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày …

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 72/2020/DS-PT
Ngày: 13/7/2020
V/v!“Tranh!chấp!ranh!giới!
giữa!các!bất!động!sản!liền!kề”!

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:!

Thẩm!phán!-!Chủ!tọa!phiên!tòa: Ông Trần Tuấn Quốc

Các!Thẩm!phán: 1/- Ông Trương Hoài Bình.

2/- Ông Nguyễn Văn Hải.

-"Thư"ký"phiên"tòa: Bà Đinh Huỳnh Thái Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại"diện"Viện"Kiểm"sát"nhân"dân"thành"phố"Cần"Thơ"tham"gia"phiên" tòa: Bà Lê Hồng Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2020/TLPT-DS ngày 24 tháng 4 năm 2020 về “Tranh!chấp ranh!giới!giữa!các!bất!động!sản!liền!kề”.!

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2020/DS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện P bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 163/2020/QĐPT-DS ngày 22 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Tô Văn S. sinh năm: 1967. Địa chỉ: ấp Nhơn Phú A, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Tô Thị A. sinh năm: 1968. Ngụ cùng địa chỉ nguyên đơn (văn!bản!ủy!quyền!ngày!10/7/2020).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Lê Thị Hoàng N, Công ty Luật TNHH MTV L&C thuộc Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn: Ông Tô Văn T. sinh năm: 1970. Địa chỉ: 132 ấp Nhơn Phú A, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Tô Thị T1, bà Tô Thị C, bà Tô Thị C1, bà Tô Thị Y, chị Nguyễn Thị Kim Th, chị Nguyễn Thị Kim D. Tất cả ngụ cùng địa chỉ bị đơn.

4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Tô Văn S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên!đơn!ông!Tô!Văn!S!trình!bày:

Phần đất của ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000112 cấp ngày 24/5/2004 do cha của ông là Tô Văn C2 tặng cho thửa 197 diện tích 313m2, thửa 203 diện tích 933m2. Quá trình sử dụng đất hộ ông Tô Văn T lấn chiếm phần đất ngang 1,4m dài 17m. Ông khởi kiện yêu cầu ông T giao trả phần đất lấn chiếm diện tích qua đo đạc là 57m2.

* Bị!đơn!ông!Tô!Văn!T!trình!bày:

Năm 1975 cha ông là Tô Văn H mua căn nhà của ông Huỳnh Văn T2, còn phần đất thửa 198 thì ông T2 cho cha ông ở. Năm 2002 ông S cho rằng ông lấn chiếm đất nhưng giải quyết không thành, năm 2014 ông S tiếp tục khởi kiện. Căn nhà gia đình ông sử dụng có chiều ngang 05m (diện tích 151m2) ổn định từ trước đến nay, không có lấn chiếm qua đất của ông S nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông S.

Vụ!việc!hòa!giải!không!thành!nên!Tòa!án!nhân!dân!huyện!P!đưa!ra!xét!xử;! tại!Bản!án!sơ!thẩm!số:!03/2020/DS-ST!ngày!15/01/2020!đã!tuyên:!

Không!chấp!nhận!yêu!cầu!khởi!kiện!của!ông!Tô!Văn!S.!

Ranh!giới!giữa!hai!thửa!197!và!198!được!xác!định!như!sau:!mặt!lộ!nhìn! vào,!thửa!197!đo!từ!trái!sang,!ngang!trước!7,8m,!dài!từ!Lộ!đal!đến!mé!sông!Cần! Thơ;! Đất! tại!ấp!Nhơn!Phú!A,! xã!N,!huyện!P,!thành!phố!Cần!Thơ.!(Kèm!theo! mảnh!trích!đo!địa!chính!ngày!13/02/2014!của!Văn!phòng!đăng!ký!quyền!sử!dụng! đất!huyện!P).!

Ngoài!ra!bản!án!còn!tuyên!về!chi!phí!thẩm!định!định!giá!tài!sản,!án!phí!sơ! thẩm!và!quyền!kháng!cáo!của!đương!sự.

Ngày 16/01/2020 nguyên đơn kháng cáo yêu cầu phúc thẩm chấp nhận khởi kiện của ông, buộc bị đơn trả 57m2 đất lấn chiếm của ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người có kháng cáo xác định vẫn giữ yêu cầu kháng cáo; bị đơn vẫn giữ ý kiến không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn cho rằng việc đo đạc của cấp sơ thẩm chưa rõ ràng, thiếu chính xác. Đồng thời tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn khai không có mặt tham gia đo đạc ở cấp sơ thẩm là vi phạm tố tụng. Vì vậy đề nghị hủy án sơ thẩm giao về cấp sơ thẩm giải quyết lại.

Ki m!sát!viên!phúc!th m!phát!bi u!ý!ki n:!V !th !t c!t !t ng,!Tòa!án!đã! th c! hi n! đúng! quy! đ nh.! V ! n i!dung:! nguyên!đ n! kháng! cáo! nh ng! không! cung!c p!thêm!đ c!ch ng!c !gì!khác!đ !ch ng!minh!cho!yêu!c u!kh i!ki n!là! có!căn!c .!Vì!v y!đ !ngh !bác!kháng!cáo,!gi !nguyên!án!s !th m.!!!

Căn!cứ!vào!tài!liệu,!chứng!cứ!đã!được!xem!xét!tại!phiên!tòa,!kết!quả!tranh! tụng!tại!phiên!tòa.!

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất liền kề, yêu cầu bị đơn giao trả phần đất lấn chiếm của ông là 57m2. Cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết xác định quan hệ “Tranh!chấp!ranh!giới!giữa!các!bất!động!sản!liền!kề” theo khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.

Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông buộc bị đơn giao trả phần đất đã lấn chiếm của ông 57m2. Xét kháng cáo của nguyên đơn, thấy rằng:

[2] Căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn, Sổ mục kê do ông Tô Văn H là cha của bị đơn đứng tên và diện tích đo đạc thực tế theo Trích đo địa chính số 69 ngày 13/02/2014 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện P thể hiện diện tích tại thửa 197-203 của ông S là 1.230m2, thiếu 16m2 so với diện tích trong giấy; Còn thửa 198 của ông T có diện tích 85m2, thiếu 102m2 so với diện tích trong Sổ mục kê. Như vậy, phần đất các bên sử dụng đều bị thiếu so với diện tích kê khai và cấp giấy chứng nhận. Vì vậy Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, cũng như xem xét đến nguồn gốc và quá trình sử dụng đất giữa các bên để điều chỉnh.

[3] Tại Công văn số 808/UBND-TNMT ngày 21/6/2019 của UBND huyện P đã nêu: “Phần!đất!tranh!chấp!57m2!thuộc!một!phần!thửa!đất!197!(thuộc!một! phần!đất!tranh!chấp!giữa!ông!Huỳnh!Văn!T3!và!ông!Tô!Văn!C2!được!Chủ!tịch! UBND!huyện!Châu!Thành!A!giải!quyết!dứt! điểm!tại! Quyết!định!số!1634/QĐ-CT.UB!ngày!11/12/2002!và!Quyết!định!số!1266/QĐ-UBND!ngày!08/10/2002).! Ủy!ban!nhân!dân!huyện!P!đã!tổ!chức!thực!hiện!02!Quyết!định!trên!và!cấp!giấy! CNQSDĐ!số!0000112!cho!hộ!ông! Tô! Văn! C2!(bao!gồm! phần!đất! tranh! chấp! 57m2)”. Theo các quyết định này, là từ năm 2002 ông Huỳnh Văn T3 đã khiếu nại tranh chấp đòi lại 05 công đất ruộng và 1,5 công đất vườn mà ông Tô Văn C2 cùng con là Tô Văn Sơn đang sử dụng do nhận chuyển nhượng từ hai người con ông Huỳnh Văn T4 (là em ruột ông T2), nhưng đã không được chấp nhận. Ông T2 chỉ được ổn định diện tích đang sử dụng là 240,46m2. Trên cơ sở đó, UBND huyện P cấp giấy CNQSDĐ cho phía ông Tô Văn C2.

[4] Nguồn gốc đất của phía bị đơn sử dụng là của ông T2 bán căn nhà và cho thêm một phần đất từ năm 1975 (ông T2 xác nhận có sơ đồ giấy tay kèm theo), sau đó ông Tô Văn H đăng ký đứng tên Sổ mục kê với diện tích 187m2. Như án sơ thẩm nhận định, mặc dù giấy xác nhận là văn bản thỏa thuận của ông T2 cho bị đơn tiếp tục sử dụng đất, không có giá trị chứng minh xác lập ranh giới, mốc giới nhưng thể hiện căn nhà của gia đình bị đơn có chiều ngang bằng chiều ngang thửa đất 5,1m đã sử dụng ổn định, được xây dựng trên 20 năm. Tức là khi giải quyết tranh chấp giữa ông T2 với ông Ca và sau đó cấp giấy CNQSDĐ cho ông Ca, cơ quan thẩm quyền đã xem xét đến việc tồn tại căn nhà của ông T2 (sau này bán cho phía bị đơn). Như vậy là đã giải quyết dứt điểm từ năm 2002 như Công văn 808 của UBND huyện P xác định. Mặt khác, diện tích đất của nguyên đơn nếu tính cả phần tranh chấp 57m2 sẽ thừa nhiều so với giấy chứng nhận, trong khi phía bị đơn vẫn còn thiếu rất nhiều.

Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, mà ổn định vị trí đất các bên đang sử dụng để làm ranh giới giữa 02 thửa đất 197 và 198 là có căn cứ.

[5] Việc bị đơn khai không được Tòa án cấp sơ thẩm thông báo tham gia thẩm định, đo đạc nên không có mặt ở các buổi làm việc đó. Căn cứ vào Biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 24/10/2014 (BL 87,88), Biên bản định giá tài sản ngày 22/5/2014 (BL 92->94) thể hiện bị đơn có tham gia chứng kiến và có ký tên trong biên bản. Cũng như việc bị đơn khai có mặt trong phiên tòa sơ thẩm ngày 15/01/2020, nhưng bản án sơ thẩm thể hiện xét xử vắng mặt bị đơn. Như vậy, lời trình bày về các nội dung này của bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, nên không có căn cứ để cho rằng cấp sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng. Do đó không chấp nhận đề nghị hủy án sơ thẩm của Luật sư.

Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh, kháng cáo không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Quan điểm của Kiểm sát viên phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận đề nghị bác kháng cáo nguyên đơn, giữ y án sơ thẩm.

[5] Về án phí phúc thẩm: kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn!cứ: Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 265, 688 Bộ luật dân sự năm 2005; Đi u!105!Lu t!Đ t!đai! năm!2003,!kho n!1!Đi u!203!Lu t!đ t!đai!năm!2013;!Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Tô Văn S; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1/- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Văn S về việc yêu cầu ông Tô Văn T giao trả diện tích đất liền kề 57m2.

2/- Xác định ranh giới giữa hai thửa đất 197 và 198 của ông Tô Văn S với ông Tô Văn T là: từ mặt lộ nhìn vào, thửa 197 đo từ trái sang, ngang trước 7,8m; dài từ Lộ đal đến mé sông Cần Thơ (Kèm!theo!trích!đo!địa!chính!số!69!ngày! 13/02/2014!của!Văn!phòng!đăng!ký!quyền!sử!dụng!đất!huyện!P).

Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan chức năng để điều chỉnh, đăng ký quyển sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

3/- Chi phí thẩm định, định giá tài sản: 2.000.000đ nguyên đơn chịu; đã nộp tạm ứng và chi xong.

4/- Án phí sơ thẩm: nguyên đơn chịu 200.000đ; khấu trừ 510.000đ nộp tạm ứng theo biên lai số 005398 ngày 31/3/2014 nên được nhận lại 310.000đ.

Án phí phúc thẩm: nguyên đơn chịu 300.000đ; chuyển số tiền nộp tạm ứng án phí kháng cáo theo biên lai số 017291 ngày 16/01/2020 thành án phí phúc thẩm, nguyên đơn đã nộp xong.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Tr ng!h p!b n!án!đ c!thi!hành!theo!qui!đ nh!t i!Đi u!2!c a!Lu t!Thi! hành!án!dân!s !thì!ng i!đ c!thi!hành!án!dân!s ,!ng i!ph i!thi!hành!án!dân!s ! có! quy n! th a! thu n! thi! hành! án,!quy n! yêu! c u! thi!hành!án,! t ! nguy n! thi! hành!án!ho c!b !c ng!ch !thi!hành!án!theo!qui!đ nh!t i!các!Đi u!6,!7!và!9!c a! Lu t!Thi!hành!án!dân!s ;!th i!hi u!thi!hành!án!đ c!th c!hi n!theo!qui!đ nh!t i! Đi u!30!c a!Lu t!Thi!hành!án!dân!s .!

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Nơi!nhận :

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

- Các đương sự

- VKSND.TPCT

- TAND.H.Phong Điền.

- Chi cục THADS.Phong Điền.

(đã ký)

- Lưu (HS - 2b).

Trần Tuấn Quốc

Cỡ chữ