- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn S bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cà Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2019/HS-ST Ngày 30/7/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Bưởi và ông Quàng Văn Khoa.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Mạnh Hùng, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Hoàng Mạnh Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2019/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Cà Văn S, sinh ngày 24 tháng 11 năm 1975; tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nơi ĐKNKTT: Bản G, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Cà Văn M, sinh năm 1937 (đã chết), con bà Cà Thị L, sinh năm 1932; Có vợ là Lò Thị H, sinh năm 1978, có 02 con (con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2007); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 3 năm 2019 đến nay,bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lò Thị H, sinh năm 1978 - Địa chỉ: Bản G, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 30 phút ngày 29/3/2019, Tổ công tác Công an phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản Chậu, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã phát hiện, bắt quả tang Cà Văn S đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý.
Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất cục bột màu trắng (Cà Văn S tự giác lấy từ trong lòng bàn tay trái ra giao nộp và khai nhận đó là Heroine, cất giữ để sử dụng);
Ngoài ra còn tạm giữ: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu trắng, biển kiểm soát 26B1 – 432.88;
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia - 105 màu đen đã qua sử dụng.
Ngày 29/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu gửi giám định, kết quả:
Số cục bột màu trắng trong gói giấy màu trắng có khối lượng là 0,24 gam. Lấy 0,11 gam làm mẫu giám định ký hiệu S1 giao phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, còn lại 0,13 gam làm mẫu lưu kho ký hiệu S2.
Kết luận giám định số 711 ngày 02/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu S1 là ma túy; Loại Heroine. Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam; loại Heroine. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ là 0,24 gam; Loại Heroine”. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Cà Văn S khai nhận: khoảng 12 giờ 00 phút ngày 29/03/2019, Cà Văn S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu trắng, biển kiểm soát: 26B1-432.88 đi từ nhà tại bản Giảng, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đến khu vực tổ 05, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, S đã gặp và hỏi mua của 01 người nam giới (S không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) 01 gói Heroine, người đó đồng ý. Đồng thời hẹn S đi vào khu vực bản Chậu, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La để trao đổi mua bán ma túy. S đồng ý rồi điều khiển xe mô tô đi đến khu vực bản Chậu. Tại đây, S đã mua được của người nam giới trên 01 gói Heroine với số tiền là 280.000đ (Hai trăm tám mươi nghìn đồng). Sau đó, S cất giấu gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường Chiềng Cơi thành phố Sơn La phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng tại khu vực bản Chậu, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Về nguồn gốc 0,24 gam Heroine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người nam giới không biết họ tên, địa chỉ cụ thể ở đâu vào ngày 29/3/2019, tại khu vực bản Chậu, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 72/CT-VKSTP ngày 05/7/2019, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Cà Văn S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Cà Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Cà Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015:
Xử phạt bị cáo Cà Văn S từ 12 đến 15 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2, điểm a,b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Chiếc phong bì công văn Công an thành phố Sơn La được niêm phong dán kín. Mặt trước ghi: “ Vật chứng lưu kho vụ Cà Văn S. SN 1975. Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 29/3/2019”, gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy trắng; mẫu lưu kho ký hiệu S2 = 0,13 gam”. Mặt sau phong bì niêm phong có 06 chữ ký + 06 dòng họ tên các thành phần tham gia niêm phong, đối tượng bị bắt và 01 dấu tròn đỏ của CQ CSĐT – Công an thành phố Sơn La.
Trả lại cho bị cáo Cà Văn S: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia
- 105 màu đen, số Imei 353032/06/278201/2, đã qua sử dụng.
Trả lại chị Lò Thị H: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu trắng, biển kiểm soát 26B1 – 432.88, số khung RLHHAO802AY203057, số máy HA08E-1503133, không có gương bên phải, đã qua sử dụng.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Cà Văn S nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn la, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Ngày 29/3/2019, Cà Văn S đã có hành vi cất giữ trái phép 0,24 gam Heroine trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản Chậu, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:
- Lời khai nhận tội của bị cáo;
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 45 phút ngày 29/3/2019 tại bản Chậu, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đối với Cà Văn S cùng vật chứng thu giữ là 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa cục, bột màu trắng có tổng khối lượng 0,24 gam Heroine;
- Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 711 ngày 02/4/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của ông Hoàng Văn C, sinh năm 1963, trú tại: Bản M, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết quả điều tra.
Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Cà Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Cà Văn S phạm tội với tổng khối lượng 0,24 gam Heroine đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Cà Văn S khai mua của một người nam giới không biết họ tên, địa chỉ cụ thể ở đâu vào ngày 29/3/2019, tại khu vực bản Chậu, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra mở rộng vụ án. Do đó buộc bị cáo Cà Văn S phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.
Vật chứng vụ án:
Đối với 01 (một) Chiếc phong bì công văn Công an thành phố Sơn La được niêm phong dán kín. Mặt trước ghi: “ Vật chứng lưu kho vụ Cà Văn S. SN 1975. Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 29/3/2019”, gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy trắng; mẫu lưu ký hiệu S2 = 0,13 gam”, là vật Nhà Nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia - 105 màu đen đã qua sử dụng tạm giữ khi bắt quả tang: Quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo Cà Văn S, không sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo S theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu trắng, biển kiểm soát 26B1 – 432.88, bị cáo Cà Văn S sử dụng làm pH tiện phạm tội quá trình điều tra và lời khai tại phiên tòa xác định chiếc xe máy đó là tài sản chị Lò Thị H, nguồn gốc tiền mua chiếc xe là do chị H được sự hỗ trợ người thân trong gia đình và vay mượn thêm để mua xe làm phương tiện đưa đón con đi học và là phương tiện hàng ngày để chị H đi làm thuê trang trải cho cuộc sống trong gia đình, bị cáo là đối tượng nghiện hút ma túy, bản thân bị cáo không góp tiền vào việc mua chiếc xe, chiếc xe là phương tiện và tài sản có giá trị duy nhất trong gia đình việc bị cáo sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội chị H không biết, do đó cần trả lại tài sản cho chị H căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Buộc bị cáo Cà Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Cà Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Cà Văn S 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 29/3/2019).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, c khoản 2; điểm a,b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Chiếc phong bì công văn Công an thành phố Sơn La được niêm phong dán kín. Mặt trước ghi: “ Vật chứng lưu kho vụ Cà Văn S. SN 1975. Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 29/3/2019”, gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy trắng; mẫu lưu kho ký hiệu S2 = 0,13 gam”. Mặt sau phong bì niêm phong có 06 chữ ký + 06 dòng họ tên các thành phần tham gia niêm phong, đối tượng bị bắt và 01 dấu tròn đỏ của CQ CSĐT – Công an thành phố Sơn La.
Trả lại cho bị cáo Cà Văn S: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia
- 105 màu đen, số Imei 353032/06/278201/2, đã qua sử dụng.
Trả lại chị Lò Thị H: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu trắng, biển kiểm soát 26B1 – 432.88, số khung RLHHAO802AY203057, số máy HA08E-1503133, không có gương bên phải, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/7/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Cà Văn S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Cà Văn S; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/7/2019).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố Sơn La (2); - THADS thành phố Sơn La; - Công an thành phố Sơn La; - THAPT (2); - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ, án văn. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà ( đã ký) Cầm Thị Thanh Huyền |