vanban.org

Bản án 72/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 11/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Quốc Q 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (22/4/2019). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN QUỐC Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TĨNH GIA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2019/HS-ST
Ngày: 11-09-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TĨNH GIA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Tấn

2. Ông Nguyễn Quang Học

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 09 năm 2019, tại Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 08 năm 2019 theo; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2019/QĐXXST – HS ngày 29 tháng 08 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc Q - Sinh ngày:06/02/1991; Nơi ĐKHKTT: xã H, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 04/12; Con ông: Nguyễn Chân C ( Đã chết) và con bà: Hoàng Thị T -Sinh năm: 1964; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 11/3/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Cướp giật tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22 tháng 4 năm 2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1. Anh Trần Văn D - Sinh năm: 1989

Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

2. Anh Vương Đình B – Sinh năm: 1957

Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 22/4/2019, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên Nguyễn Quốc Q đi vào khu vực cầu H thuộc địa phận xã M, huyện T, tỉnh Thanh Hóa để mua ma túy. Tại khu vực cầu H, Q gặp một người đàn ông lạ mặt, khoảng 30 tuổi, đầu đội mũ lưỡi trai, da đen, đeo khẩu trang. Khi Q hỏi mua ma túy, người đàn ông này bán cho Q 01 (một) gói ma túy với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, Q đi bộ đến khu vực thôn H, xã M, huyện T để tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị tổ tuần tra kiểm soát giao thông Đồn công an Nghi Sơn công an huyện Tĩnh Gia phát hiện và bắt quả tang, thu giữ trong bàn tay trái của Q 01 (một) gói giấy dạng giấy vở học sinh có dòng kẻ, chữ viết màu đen bên trong có chứa chất màu trắng ngà dạng cục vụn nghi là Heroine, ngoài ra không phát hiện và thu giữ gì thêm.

Sau khi thu giữ được chất nghi là ma túy nêu trên, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chất ma túy theo quy định. Tại bản kết luận giám định số 1061/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa ngày 23/4/2019 kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy có khối luợng 0,138g (không phẩy một ba tám gam), loại Heroine.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Tĩnh Gia tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Quốc Q tại thôn Q, xã H, huyện T, song không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Về vật chứng của vụ án: 01 gói giấy có dòng kẻ carô, chữ viết màu đen chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn khối lượng sau giám định là 0,113 gam (không phẩy một một ba gam), loại Heroine được niêm phong bởi phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa hiện đang được quy trữ theo quy định của pháp luật.

Bản cáo trạng số 78/CT-VKSTG ngày 05/08/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Quốc Q về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015

* Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Quốc Q.

- Mức hình phạt mà VKS đề nghị xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Quốc Q là từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (22/04/2019). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy 0,113 gam (không phẩy một một ba gam), loại Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định;

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm, là đối tượng nghiện ma túy nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Công an huyện Tĩnh Gia, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tĩnh Gia, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo Q khai nhận: Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 22/4/2019, tại thôn H, xã M, huyện T, tỉnh Thanh Hóa khi Q đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,138g Heroine thì bị tổ tuần tra kiểm soát giao thông Đồn Công an Nghi Sơn phát hiện bắt quả tang.

Tại phiên toà đại diện VKSND huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận bị cáo Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất, hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, đe dọa sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, cũng như ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Ma túy là hiểm họa của cộng đồng và còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác. Vì vậy cần được xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Q là đối tượng nghiện ma túy, thường xuyên vắng mặt tại địa phương, hiện nay đang thuộc diện quản lý của Công an xã H (có biên bản xác minh). Bị cáo có nhân thân xấu đó là ngày 11/3/2015 bị cáo bị TAND huyện Tĩnh Gia xử 12 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, cố tình không chịu rèn luyện, cải sửa mình. Do đó nghĩ cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mới đủ để cải và giáo dục bị cáo cũng như phòng răn đe và ngừa chung.

Xong khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo; Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,113 gam (không phẩy một một ba gam) loại Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng...". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, lại là đối tượng nghiện ma túy. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Án phí: Buộc bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Quốc Q.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Quốc Q 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (22/4/2019). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy tuyên tịch thu tiêu hủy 0,113 gam (không phẩy một một ba gam), loại Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định.

(Theo phiếu nhập kho số NK2019/75 ngày 21 tháng 08 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tĩnh Gia).

- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23, mục 1 phần I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ