- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2019/HS-ST Ngày 16/9/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lục Văn Vãn;
2. Ông Nguyễn Thanh Sở.
Thƣ ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Phạm Ngọc Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (Đường B2, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2019/TLST- HS ngày 09 tháng 8 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 9 năm 2019 đối với:
Bị cáo Dương Văn Đ- Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15/5/1959 tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái;
Hộ khẩu thường trú: Thôn T, thị trấn Ph, huyện B, tỉnh L; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/10.
Tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Có hai tiền án theo bản án số: 34/HSST ngày 17/4/1997 của tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng tuyên phạt 18 tháng tù về tội “ tổ chức sử dụng chất ma túy” theo bản án số: 12/HSST ngày 08/6/2000 của tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tuyên phạt 30 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” đã được xóa án tích.
Con ông: Dương Đức S (đã chết); con bà: Vũ Thị H ( đã chết)
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/5/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai. (Có mặt).
Người chứng kiến: Anh Trần Văn Hợp
Trú tại: tổ 8, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 07 giờ 00 phút ngày 29/5/2019, tổ công tác Công an thành phố Lào Cai làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 28A, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai phát hiện 01 người đàn ông tên là Dương Văn Đđang ngồi ở trong sân của cơ sở điều trị nghiện bằng thuốc Methadone số 1 có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra Dương Văn Đtự giác lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc ra giao nộp 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 02 gói bạc màu trắng chứa cục chất bột khô màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định có anh Trần Văn Hợp, sinh năm 1981, trú tại: Tổ 8, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai chứng kiến việc kiểm tra.
Tại bản kết luận giám định số: Tại Kết luận giám định ma túy số 138/GĐMT ngày 31/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 0,63 gam cục bột khô, màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine. Cơ quan giám định tiến hành trích mẫu giám định 0,1 gam, còn 0,53 gam tái niêm phong hoàn trả lại cơ quan trưng cầu.
Bản cáo trạng số 74/KSĐT ngày 07/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Dương Văn Đphạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa bị cáo Dương Văn Đđã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Văn Đphạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù.
Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,53 (không phẩy lăm mươi ba) gam Heroine (Hêrôin) được niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Dương Văn Đcó hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện, thu giữ ngày 29/5/2019 tại tổ 28A, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”; Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 21/8/2019 giữa Công an thành phố Lào Cai và Chi cục thi hành án thành phố Lào Cai.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà: Bị cáo Dương Văn Đkhai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tóm tắt ở trên và xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Dương Văn Đạo:
Do nghiện ma túy nên khoảng 06 giờ ngày 29/5/2019 Dương Văn Đđến khu tổ 28A, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai để uống thuốc cai nghiện. Tuy nhiên trước khi vào uống thuốc bị cáo đã mua được 02 gói Heroine (Hêrôin) với giá 600.000 nghìn đồng, cất giấu trong túi quần di chuyển vào Cở sở cai nghiện Phường Phố Mới thì bị Công an thành phố Lào Cai phát hiện, bắt quả tang thu giữ của bị cáo 02 gói Heroine (Hêrôin) có khối lượng là 0,63 (không phẩy sáu mươi ba) gam . Vì vậy bị cáo bị Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai khởi tố và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết pháp luật, bị cáo biết rõ nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy. Nhưng do nghiện ma túy, bị cáo đã thực hiện hành vi mua, tàng trữ trái phép 0,63 (không phẩy sáu mươi ba) gam để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an ở địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, vì vậy phải xử phạt bị cáo thật nghiêm khắc trước pháp luật, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời lấy đó làm bài học cho công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Nhân thân bị cáo Dương Văn Đcó nhân thân xấu, năm 1997 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt 18 tháng tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Năm 2000 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt 30 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng đến nay cả hai bản án này đều đã được xóa án tích.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Sau khi bị bắt, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy điều kiện hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, không có khả năng để thi hành án nên không áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền với đối bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Qua trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ:
- 0,63 (không phẩy sáu mươi ba) gam Heroine (Hêrôin) đã trích mẫu giám định 0,1 gam, còn 0,53 ( không phẩy lăm mươi ba ) gam được niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Xét thấy đây thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành và vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự là phù hợp.
Do bị cáo bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Dương Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt bị cáo Dương Văn Đ 15 (mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/5/2019.
Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,53 ( không phẩy năm mươi ba ) gam Heroine được niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Dương Văn Đ có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện, thu giữ ngày 29/5/2019 tại tổ 28A, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”; Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 21/8/2019 giữa Công an thành phố Lào Cai và Chi cục thi hành án thành phố Lào Cai.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Dương Văn Đphải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Dương Văn Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh,TP 2; - Công an TP 3; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - T.H.A 2; - Lưu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Vân |