vanban.org

Bản án 72/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 12/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Giàng A Ch phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Giàng A Ch 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 tháng 9 năm 2019 (ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ).

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy nilon gói ma túy và phong bì niêm phong vật chứng khi bắt giữ Lờ A Giang (đựng trong phong bì do Công an huyện Phù Yên niêm phong). Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) của Giàng A Ch. Về án phí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A Ch- Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Giàng A Ch phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Giàng A Ch 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 tháng 9 năm 2019 (ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ).
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN,
TỈNH SƠN LA
––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2019/HS-ST
Ngày 12 -11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Tân Việt

Các Hội thẩm nhân dân: bà Lý Thị Dung, ông Hoàng Hải Yến

- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Hương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: ông Đinh Văn Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2019/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo: Giàng A Ch, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1980 tại Phù Yên – Sơn La; nơi cư trú: Bản K, xã K, huyện P, tỉnh S; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: H’Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Giàng A Ph (đã chết); con bà: Lờ Thị S(đã chết); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02 tháng 9 năm 2019 đến nay, “có mặt”.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ người làm chứng: anh Lờ A Giang, sinh năm 1973; địa chỉ: bản Suối Vẽ, xã Nam Phong, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La,“có mặt”.

+ Người phiên dịch: ông Cầm Đình Cốc, nơi cư trú: tiểu khu 7, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 02/9/2019, bị cáo Giàng A Ch đang ở nhà tại bản Kim Bon, xã Kim Bon, huyện Phù Yên thì có Lờ A Giang ở bản Suối Vẽ, xã Nam Phong, huyện Phù Yên đến nhà hỏi mua ma túy để sử dụng. Bị cáo Ch đã bán cho Giang 01 viên ma túy với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Lờ A Giang điều khiển xe mô tô đi về nhà, khi đi ra đến đầu bản Kim Bon thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Trên cơ sở lời khai của Lờ A Giang, cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý đối với Giàng A Ch theo quy định của pháp luật. Về nguồn gốc ma túy, Giàng A Ch khai mua của một người đàn ông lạ mặt dân tộc H’Mông.

Tại biên bản mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu gửi giám định xác định (bút lục số 21): Vật chứng thu giữ của Giàng A Ch là 01 viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 0,09 gam. Cơ quan điều tra đã lấy 0,09 gam (ký hiệu G) gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 1449 ngày 04/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận (bút lục số 22): Mẫu gửi giám định ký hiệu G là ma túy, loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,09 gam, loại Methamphetamine. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Cơ quan điều tra và của Phòng kỹ thuật hình sự nêu trên.

Với những tình tiết như trên, tại Cáo trạng số: 78/CT – VKS - PY ngày 29/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã truy tố Giàng A Ch về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Giàng A Ch đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Kết thúc việc xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Hành vi của bị cáo Giàng A Ch đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A Ch từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy nilon gói ma túy và phong bì niêm phong vật chứng khi bắt giữ Lờ A Giang. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) của Giàng A Ch.

Trong phần đối đáp, bị cáo Giàng A Ch nhất trí với quyết định truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Kết thúc tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng quy định theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Giàng A Ch khai nhận đã bán cho Lờ A Giang 01 viên Methamphetamine với giá 50.000 đồng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt người có hành vi cất giữ ma túy, Biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Theo tinh thần tiểu mục 3.3, mục 3, phần II của Thông tư liên tịch số: 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thì “3.3. “Mua bán trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây:

a) Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác”;

Theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự thì “1. Người nào

mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Kết quả cân tịnh và giám định vật chứng xác định: Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,09gam, loại Methamphetamine. Như vậy, hành vi bán trái phép 0,09 gam Methamphetamine của Giàng A Ch đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc “Mua bán trái phép chất ma túy” bị pháp luật nghiêm cấm nhưng lợi nhuận, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý phạm tội.

Bị cáo là người dân tộc ít người, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn; bản thân làm nghề lao động tự do, trình độ học vất thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trên địa bàn huyện Phù Yên thời gian gần đây tình hình tội phạm, người phạm tội và tệ nạn ma túy diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng, làm ảnh hưởng lớn đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo, đảm bảo việc giáo dục riêng, phòng ngừa chung. Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,…” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế gia đình còn khó khăn (bút lục số 51). Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, áp dụng biện pháp tư pháp: Đối với nilon gói ma túy, phong bì niêm phong vật chứng khi bắt người quả tang, xác định là vật chứng, vật không có giá trị; Căn cứ vào Điều 89, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.

Đối với số tiền 50.000 đồng thu giữ của Giàng A Ch, do bị cáo phạm tội mà có. Căn cứ b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đối với Lờ A Giang, mục đích mua và cất giấu ma túy là để sử dụng, chưa có tiền án, tiền sự, khối lượng ma túy cất giấu dưới 0,1 gam. Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đối với Giang là đúng quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán ma túy cho bị cáo. Bị cáo không biết họ tên, địa chỉ của người đàn ông đó ở đâu. Ngoài lời khai của bị cáo, không còn chứng cứ nào khác chứng minh việc mua bán ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xử lý.

Do đến ngày xét xử, thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết nên Hội đồng xét xử cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

1. Tuyên bố: Bị cáo Giàng A Ch phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Giàng A Ch 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 tháng 9 năm 2019 (ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ). Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy nilon gói ma túy và phong bì niêm phong vật chứng khi bắt giữ Lờ A Giang (đựng trong phong bì do Công an huyện Phù Yên niêm phong). Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) của Giàng A Ch.

3. Về án phí: Bị cáo Giàng A Ch phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/11/2019).

Cỡ chữ