vanban.org

Bản án 72/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 21/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm i Khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 47, Điều 55 của Bộ luật Hình sự 2015 áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Hữu L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Điểm g Khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015 áp dụng đối với bị cáo Nguyễn…

Điểm i Khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015 áp dụng đối với bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Bá Q; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu L và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm i Khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 47, Điều 55 của Bộ luật Hình sự 2015 áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Hữu L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Điểm g Khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015 áp dụng đối với bị cáo Nguyễn…
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2019/HS-ST
Ngày: 18, 21 - 6 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán sơ cấp - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Tuyến

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Đăng Dũng

2. Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Thế - Kiểm sát viên sơ cấp.

Trong các ngày 18, 21/6/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh,Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2019, theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 71 /2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Hữu L - Sinh năm: 1959 tại Hà Nội; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn NC, xã VN, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Hữu N và bà Nguyễn Thị C; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; Vợ Đồng Thị P, có 04 người con, lớn sinh năm 1979, nhỏ sinh năm 1985; Tiền án, tiền sự: Theo Danh chỉ bản số 000000187 lập ngày 02/2/2019 của Công an huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội bị cáo có 01 tiền án: Ngày 08/11/2012, TAND huyện Đông Anh tuyên phạt 36 tháng tù về tội Môi giới mại dâm; Bản án số 244/2012/HSST ngày 08/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh. Chấp hành xong hình phạt ngày 18/10/2014 (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giam từ: 31/1/2019 đến nay.Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Hoàng Văn T, sinh năm 1992; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn NC, xã VN, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Hoàng Văn S và bà Dương Thị S1; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Theo Danh chỉ bản số 000000188 lập ngày 02/2/2019 của Công an huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội bị cáo có 01 tiền sự ngoài thời hiệu vào năm 2016 về hành vi tàng trữ ma túy.

Bị cáo bị tạm giam từ : 31/01/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Bá Q - Sinh năm: 1997; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Xóm Đ, xã ĐS, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Bá B và bà Nguyễn Thị K; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 3; Tiền án, tiền sự: Theo Danh chỉ bản số 000000368 lập ngày 16/6/2019 của Công an huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị tạm giữ từ: 12/6/2018; tạm giam đến nay tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; hộ khẩu thường trú: Thôn LN, xã TD, huyện ĐA, thành phố Hà Nội; hiện nay đang cai nghiện tại tại Cơ sở cai nghiện số 2 Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09h30’ ngày 12/6/2018, Công an huyện Đông Anh phối hợp cùng Công an xã Vĩnh Ngọc kiểm tra hành chính nhà nghỉ MH, do ông Nguyễn Đức H1 (SN: 1964, trú tại: NC, VN, ĐA, Hà Nội) làm chủ. Phát hiện tại phòng 703 có 06 người, gồm: Nguyễn Hữu L, Nguyễn Bá Q, Hoàng Văn T, Nguyễn Thị H (SN: 1971, trú tại: LN, TD, ĐA, Hà Nội - hiện đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện số 2 Hà Nội), Nguyễn Thị C(SN: 1986, HKTT: Tổ XX, P. HT, TP. TQ, Tuyên Quang) và Lò Thị D (SN: 1999; HKTT: Bản M, SL, VC, Yên Bái) có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy.

Phát hiện, tạm giữ trên giường ngủ có các đồ vật, vật chứng nghi vấn là chất ma túy và dụng cụ sử dụng chất ma túy, cụ thể:

- Tại vị trí Nguyễn Bá Q đang ngồi có: 01 túi nilon màu trắng kích thước (03x05)cm chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, kích thước (03x05)cm bên trong có 16 túi nilon nhỏ màu trắng kích thước (01x1,5)cm đều chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng kích thước (01x1,5)cm bên trong có 03 viên nén màu hồng; 01 túi nilon màu trắng kích thước (01x1,5)cm bên trong có 02 viên nén màu hồng; 01 túi nilon màu xanh kích thước (6,5x06)cm bên trong có 58 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh; 06 túi nilon màu trắng kích thước (01x1,5)cm bên trong mỗi túi có 03 viên nén màu hồng; 02 túi nilon màu trắng kích thước (01x1,5)cm bên trong mỗi túi có 02 viên nén màu hồng; 02 túi nilon màu trắng kích thước (04x06)cm đều chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu vàng xanh kích thước (01x06)cm bên chứa tinh thể màu trắng;

- Tại vị trí của Nguyễn Thị H có: 01 điện thoại OPPO màu hồng, số thuê bao 1: 0984715860, số thuê bao 2: 01275528695; 01 điện thoại Nokia 6300 màu vàng, số thuê bao: 01652790028 (02 chiếc điện thoại này của Nguyễn Hữu L); 01 điện thoại OPPO màu trắng, số thuê bao: 0975893371 (điện thoại của Nguyễn Thị H).

- Tại mặt sàn nhà có 02 chai nhựa, mỗi chai có gắn ống hút nhựa và cóong thủy tinh; 01 cân tiểu ly điện tử đã được mở vỏ bao.

Khám người theo thủ tục hành chính phát hiện và tạm giữ:

- Của Nguyễn Bá Q: 01 điện thoại di động chiếc nhãn hiệu Sony Experia, kiểu E6883, màu vàng đen, số thuê bao: 01237634801 trong lòng bàn tay phải và 01 chiếc nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, số thuê bao: 0975494693 trong túi quần bên trái phía trước.

- Của Hoàng Văn T: 01 chiếc nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, số thuê bao: 01667378353 và 01 chiếc nhãn hiệu Iphone 5, màu trắng, số thuê bao: 097833892 tại lòng bàn tay phải.

- Của Lò Thị D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37, màu hồng, số thuê bao: 01688253006 trong túi quần phía sau bên phải.

- Của Nguyễn Thị C: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1208, màu đen, số thuê bao: 01659062696 trong túi quần bên phải phía trước.

- Khám người theo thủ tục hành chính đối với Nguyễn Hữu L và Nguyễn Thị H không phát hiện thu giữ gì.

Lực lượng Công an đã tạm giữ đồ vật và đưa người liên quan về cơ quan điều tra để xác minh làm rõ.

Ngày 13/6/2018, khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Bá Q tại xóm Đấp 2, Đắc Sơn, Phổ Yên, Thái Nguyên cơ quan Công an không phát hiện thu giữ gì.

Ngày 12/6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đông Anh đã ra Q định trưng cầu giám định đối với đồ vật, tạm giữ trong quá trình kiểm tra hành chính. Tại bản kết luận giám định số 5421/KLGĐ-PC54 ngày 18/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận:

Tang vật tạm giữ của Nguyễn Bá Q

+ Tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon màu trắng có tổng khối lượng 2,120 gram là ma túy loại Methamphetamine.

+ Tinh thể màu trắng trong 16 túi nilon màu trắng có tổng khối lượng 2,160 gram là ma túy loại Methamphetamine.

+ 05 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,520 gram là ma túy loại Methamphetamine.

+ 80 viên nén màu hồng hình tròn (Logo chữ Wy) là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 8,640 gram.

+ 01 viên nén màu xanh hình tròn (Logo chữ Wy) có khối lượng 0,090 gram là ma túy loại Methamphetamine.

+ Tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon màu trắng có tổng khối lượng 13,700 gram là ma túy loại Methamphetamine.

+ Tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon màu vàng và màu xanh có tổng khối lượng 0,480 gram là ma túy loại Methamphetamine.

+ 01 cóong thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine.

Tang vật tạm giữ của Nguyễn Thị H

+ 01 cóong thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine.

+ 01 cân điện tử không dính ma túy loại Methamphetamine.

Tổng trọng lượng ma túy thu giữ là 27,71 gram, đều là loại Methamphetamine; 2 chiếc cóong thủy tinh, bên trong đều có dính ma túy loại Methamphetamine.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu ngày 12/6/2018 đối với Nguyễn Hữu L, Nguyễn Bá Q, Hoàng Văn T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị C, Lò Thị D tất cả đều dương tính với chất ma túy.

Tại cơ quan điều tra Q khai nhận: Nguyễn Hữu L trực tiếp bán ma túy cho con nghiện để thu lợi bất chính. Để giúp việc bán ma túy khoảng cuối năm 2017 đầu năm 2018 L đã thuê Hoàng Văn T, sau đó đến khoảng tháng 5/2018 thuê Nguyễn Bá Q bán ma túy cho các con nghiện. Q biết Nguyễn Thị H là “bạn” của bị cáo L. Tối ngày 11/6/2018, Q gọi điện thoại từ số thuê bao 01237634801 đến số thuê bao 0975893371, nhờ H mua giúp cân tiểu li để phục vụ cho việc chia lẻ ma túy.

Đến khoảng 06h00 ngày 12/6/2018, qua nhắn tin Zalo, Q biết T đang ở nhà nghỉ MH nên đã rủ T xuống phòng 403 và sử dụng ma túy cùng Q, Trần Văn K tức K1 (sinh năm 1981; trú tại: CD, TD) và 02 đối tượng nữ (chưa rõ lai lịch). Sau khi sử dụng ma túy, bị cáo T quay lên phòng 703, K1 và 02 đối tượng nữ ra về, Q ở lại phòng 403.

Khoảng 09h00, ngày 12/6/2018, L gọi điện thoại bảo Q về nhà đón đến nhà nghỉ MH. Khi đến nhà L, Q lên phòng ngủ của L tại tầng 3 lấy 01 túi nilon ma túy “Đá” cất vào trong người rồi chở L đi đến nhà nghỉ MH. Tại nhà nghỉ MH, L và Q gặp Nguyễn Thị H đang đứng ở trước của nhà nghỉ. L và H vào phòng 403, còn Q lên phòng 703 tiếp tục sử dụng ma túy với T. Khoảng 15 phút sau, L gọi điện thoại bảo Q xuống phòng 403, lúc này T nhờ Q mời L lên phòng 703 chơi. Q đi xuống phòng 403 nói lại lời của T cho L biết. L đồng ý và cùng Q lên phòng 703. L cùng D và C ngồi chơi bài trên giường. Lát sau H vào phòng và đưa cân tiểu li cho L, L bảo đưa cho Q, Q nói “cô cứ để xuống giường”. H để cân tiểu li trước mặt Q rồi vào nhà vệ sinh (trong phòng 703). L đưa cho Q bao thuốc là Sài Gòn, bên trong có ma túy, rồi tiếp tục đánh bài cùng với D và C. Q ngồi dưới nền phòng 703, lấy túi ma túy cùng 16 vỏ túi nilon nhỏ ra để chia nhỏ ma túy. T hỏi L “ông có việc gì cho cháu làm với”, ý T hỏi L cho tiếp tục tham gia bán ma túy. L đồng ý, hất hàm về phía Q và nói “đấy mày làm cùng nó, có gì bảo nó”. T hiểu ý L bảo cùng chia ma túy với Q nên T ngồi xuống cùng Q chia ma túy vào các túi nhỏ.

Lúc này H từ nhà vệ sinh đi ra, cầm theo cóong (dụng cụ sử dụng ma túy), L nói với Hà “có ít hàng ngon bỏ ra cho chúng nó thử tý”. H đưa một túi nhỏ ma túy cho L, L đưa cho T, T bỏ ma túy vào trong cóong, rồi lại quay xuống chia ma túy. H dùng khăn lau cóong (đã có ma túy) để sử dụng, lúc này có tiếng gọi cửa, Q cất ma túy lên giường và chùm chăn phủ lên. T mở cửa phòng, bị lực lượng Công an vào kiểm tra hành chính phát hiện số ma túy trên cùng các đồ vật khác trong phòng 703, lập biên bản, niêm phong vật chứng và đưa những người có liên quan về trụ sở để tiếp tục làm việc.

Căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập được, ngày 09/01/2019 Cơ quan điều tra - Công an huyện Đông Anh đã Q định khởi tố bị cáo Nguyễn Hữu L và Hoàng Văn T. Tiến khám xét chỗ ở đối với bị cáo Nguyễn Hữu L tạm giữ các vật chứng sau:

- Tại gối phòng ngủ tầng 1 có 03 túi nilon chứa tinh thể màu trắng, 01 túi nilon chứa 03 viên nén màu hồng, 01 túi nilon chứa 05 viên nén màu hồng (được niêm phong có chữ ký của Đồng Thị P).

- Tại phòng ngủ tầng 1 (giáp phòng khách tầng 1) ở khe tủ với giường ngủ có 01 chai nước thể tích 250 ml, gắn ống hút màu hồng; 01 vỏ lon cocacola bên trong chứa 73 túi nilon kích thước (1x1,5) cm, 01 túi nilon kích thước (5x7)cm, 02 đầu cóong thủy tinh, 01 sổ ghi “sổ cầu nguyện 2002” có 06 trang viết số điện thoại và người nợ tiền.

- Tại phòng ngủ tầng 3 có 06 ống hút nhựa dài 10cm, 04 ống hút nhựa dài 20cm, 02 cục giấy bạc.

- Tạm giữ trên người bị can Nguyễn Hữu L: 01 túi nilon màu trắng kích thước (4x5)cm có chứa tinh thể màu trắng nghi ma túy tổng hợp, 01 túi nilon kích thước (2x3)cm có chứa tinh thể màu trắng nghi ma túy tổng hợp, 01 viên nén màu đỏ hình trụ tròn nghi ma túy tổng hợp, 01 vỏ bao thuốc lá “555” màu xanh, 01 túi nilon có kích thước (10x5)cm, 01 mảnh giấy bạc kích thước (20x7)cm một mặt màu xanh một mặt màu trắng

- Tạm giữ trên người bị cáo Hoàng Văn T: 01 điện thoại Nokia 105 V13,00,11 màu đen có số serial 356012084062749 không gắn thẻ sim.

Ngày 01/2/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đông Anh đã ra Q định trưng cầu giám định đối với đồ vật, tạm giữ trong quá trình khám xét nơi ở và trên người Nguyễn Hữu L. Tại bản kết luận giám định 691/C09-TT2 ngày 22/02/2019 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an kết luận: Các mẫu vật gửi giám định là ma túy Methamphetamine có tổng trọng lượng 8,375 gram. Ngoài ra có 01 chai nhựa 250 ml D dịch Methamphetamine, nồng độ 0,009mg/ml

- tính quy đổi là 0,00225gram.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Hữu L khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 31/01/2019 tại NC, VN, ĐA, Hà Nội với mục đích là để sử dụng. L không thừa nhận việc đã thuê T, Q bán trái phép chất ma túy cho các con nghiện để hưởng lợi và ngày 12/6/2018 tại nhà nghỉ MH, L cũng không thừa nhận việc đưa ma túy cho T, Q chia nhỏ ma túy để đi bán. Nguồn gốc ma túy thu giữ của L là của của đối tượng Thùng (không rõ lai lịch - bạn của T con gái L) cho để sử dụng.

Mặc dù Nguyễn Hữu L không thừa nhận hành vi thuê T, Q bán trái phép chất ma túy và ngày 12/6/2018 tại nhà nghỉ MH đưa ma túy cho T, Q chia nhỏ để bán cho các con nghiện. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của Nguyễn Bá Q, Hoàng Văn T, tang vật thu giữ tại nhà L và các tài liệu chứng cứ khác. Đủ căn cứ xác định Nguyễn Hữu L có hành vi mua bán ma túy và đưa ma túy cho T, Q chia nhỏ bán cho các con nghiện.

Quá trình điều tra Hà thừa nhận biết L và Q bán ma túy, khi Q điện thoại nhờ mua cân tiểu li để cân ma túy, Hà đồng ý. Khi mua cân xong Hà mang đến và đưa cân cho Q ở phòng 703 của nhà nghỉ MH. Hà không tham gia bán ma túy cho L, không liên quan đến hành vi của L và Q. Giám định chiếc cân tiểu li không bám dính chất ma túy. Tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ để khởi tố đối với H. Cơ quan điều tra Q định tách rút tài liệu liên quan đến H tiếp tục điều tra xử lý sau.

Ngày 01/8/2018, H sử dụng ma túy tổng hợp, bị Công an phường XL, quận TH, thành phố Hà Nội lập hồ sơ đề nghị đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 21/8/2018, Tòa án nhân dân quận Tây Hồ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện 18 tháng đối với Nguyễn Thị H tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 Hà Nội. Việc H có dương tính với chất ma túy (ngày 12/6/2018) nhưng do H đã được đưa đi cai nghiện bắt buộc nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với đối tượng Thùng cho L ma túy, quá trình điều tra L khai không rõ nhân thân, lai lịch nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý.

Đối với ông Nguyễn Đức H3 (chủ nhà nghỉ) khai không biết Hoàng Văn T, Nguyễn Bá Q, Nguyễn Thị C và Lò Thị D sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng 703 nhà nghỉ MH do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Nguyễn Thị C và Lò Thị D, Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Anh áp dụng khoản 1 Điều 21, Nghị Định 167/NĐ-CP Q định xử phạt VPHC bằng hình thức phạt Cảnh cáo, đồng thời thông báo cho chính quyền địa phương và gia đình Nguyễn Thị C và Lò Thị D biết để quản lý giáo dục.

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong có tổng khối lượng là 27,710 gam đều là ma túy loại Methaphetamnine, 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 cóong thủy tinh dính ma túy Methamphetamine tất cả đều có chữ ký niêm phong của Nguyễn Bá Q và giám định viên, 02 vỏ chai nhựa trên nắp có gắn ống hút bằng nhựa, 01 điện thoại di động chiếc nhãn hiệu Sony Experia, màu vàng đen, số thuê bao: 01237634801, 01 chiếc nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, số thuê bao: 0975494693 tạm giữ của Nguyễn Bá Q; 01 điện thoại OPPO màu hồng, số thuê bao 1: 0984715860, số thuê bao 2: 01275528695, 01 điện thoại Nokia 6300 màu vàng số thuê bao: 01652790028, 01 hộp niêm phong dán kín (bên trong là mẫu vật sau giám định) có hình dấu tròn màu đỏ của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, có chữ ký của Giám định viên Phạm Đức T, 01 vỏ lon côcacôla màu đỏ bên trong có 73 túi nilon kích thước (1x1,5) cm, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “555”, 01 túi nilon kích thước (5x10)cm, 01 mảnh giấy bạc kích thước (7x20)cm tạm giữ của Nguyễn Hữu L; 01 điện thoại OPPO màu trắng, số thuê bao: 0975893371, 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 cân điện tử và 01 cóong thủy tinh có dính ma túy Methamphetamine có chữ kí niêm phong của Nguyễn Thị H và giám định viên tạm giữ của Nguyễn Thị H; 01 chiếc nhãn hiệu Nokia-1280, màu đen, số thuê bao: 01667378353; 01 chiếc nhãn hiệu Iphone 5, màu trắng, số thuê bao: 097833892. Tất cả vật chứng tạm giữ của Nguyễn Bá Q, Nguyễn Hữu L, Nguyễn Thị H đều là vật chứng của vụ án sẽ được giải Q theo quy định pháp luật.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia-1208, màu đen, số thuê bao: 01659062696 (tạm giữ của của Nguyễn Thị C) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37, màu hồng, số thuê bao: 01688253006 (tạm giữ của của Lò Thị D) là tài sản của Nguyễn Thị C và Lò Thị D. Hiện C và D không có mặt nơi cư trú, Cơ quan điều tra tách rút vật chứng, trao trả sau.

Đối với 01 điện thoại màu đen, gắn số thuê bao 0383977901 và 0393963100 và 01 sổ ghi “sổ cầu nguyện 2002” có 06 trang viết số điện thoại và người nợ tiền của chị Đồng Thị Phượng (vợ bị can L); 01 điện thoại Nokia 105 V13,00,11 màu đen không có gắn thẻ sim tạm giữ của bị can T trong quá trình bắt bị can để tạm giam không liên quan đến vụ án. Ngày 06/3/2019 Cơ quan điều tra Q định xử lý vật chứng trả chị Phương và gia đình bị can T.

Tại Cơ quan điều tra Hoàng Văn T, Nguyễn Bá Q khai nhận như trên phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được. Nguyễn Hữu L chỉ nhận tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” không thừa nhận tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tại cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 24/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội đã truy tố: Nguyễn Hữu L tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Truy tố Hoàng Văn T, Nguyễn Bá Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i Khoản 2, Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017).

Tại phiên tòa,

Các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Bá Q khai nhận tội như nội D cáo trạng đã nêu. Bị cáo Nguyễn Hữu L chỉ nhận tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” không thừa nhận tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội D, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i Khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017), xử phạt: Hoàng Văn T với mức án từ 11 năm 6 tháng đến 12 năm 6 tháng tù; xử phạt: Nguyễn Bá Q với mức án từ 12 đến 13 năm tù. Áp dụng điểm i Khoản 2 Điều 251; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017), xử phạt: Nguyễn Hữu L từ 13 đến 14 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g Khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017), xử phạt: Nguyễn Hữu L từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Hữu L chịu mức án từ 18 năm 6 tháng đến 20 năm 6 tháng tù.

Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy, các dụng cụ để sử dụng ma túy, cân tiểu ly thu giữ của các bị cáo. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước các điện thoại di động thu giữ của các bị cáo và các đối tượng liên quan dùng vào việc liên lạc để mua bán ma túy. Không phạt tiền các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đông Anh thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử.

. Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Bá Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Tuy bị cáo Nguyễn Hữu L không nhận tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa. Được chứng minh bằng các vật chứng của vụ án và số Methamphetamine thu giữ của các bị cáo. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu L, Hoàng Văn T, Nguyễn Bá Q ngày 12/6/2018 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017). Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu L ngày 31/1/2019 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017).

. Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Hữu L có 01 tiền án, bị cáo Hoàng Văn T có 01 tiền sự. Các tiền án, tiền sự của các bị cáo đều đã được xóa án tích và ngoài thời hiệu. Bị cáo Nguyễn Bá Q chưa có tiền án tiền sự.

- Về tiền án, tiền sự: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Khi lượng hình, Tòa án đã xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để từ đó có hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể:

+ Tình tiết tăng nặng: Không có.

+ Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ, cần áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” của bị cáo Nguyễn Hữu L do bị cáo không nhận tội nên không cho bị cáo được hưởng tình tiết thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đối với tội danh áp dụng với bị cáo.

. Về hình phạt:

- Hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến chính sách đặc quyền quản lý của Nhà nước về các chất độc hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Các bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, gây nguy hại cho xã hội và bị Nhà nước quy định là tội phạm, các bị cáo Nguyễn Hữu L, Hoàng Văn T, Nguyễn Bá Q nhận thức được ma túy là chất độc dược gây nghiện, nó hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các căn bệnh xã hội trong đó có HIV/AIDS và các tội phạm khác nhưng vì tư lợi các bị cáo đã liều lĩnh mua bán chất ma túy là loại chất do Nhà nước độc quyền quản lý. Đây là vụ án mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã thể hiện ý thức coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện Đông Anh cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo nhằm hạn chế các loại tội phạm ma túy trên địa bàn huyện Đông Anh nói riêng và Thành phố Hà Nội nói chung. Do đó, áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt tù có thời hạn với các bị cáo, xử phạt các bị cáo hình phạt tù trong khung hình phạt cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249; khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định, thì người phạm tội có thể còn bị phạt tiền…Tuy nhiên, xét trong trường hợp này các bị cáo chưa có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

Cần tịch thu tiêu hủy cân tiểu ly, cóong dùng để sử dụng ma túy, các túi nilon, số ma túy thu giữ của các bị cáo.

Đối với các điện thoại di động thu giữ của bị cáo và các đối tượng liên quan dùng vào việc liên lạc để mua bán ma túy cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước là đúng quy định pháp luật theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điểm i Khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 47, Điều 55 của Bộ luật Hình sự 2015 áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Hữu L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Điểm g Khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015 áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Hữu L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Điểm i Khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015 áp dụng đối với bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Bá Q;

- Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.

Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Bá Q phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

Nguyễn Hữu L: 13 (mười ba) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 2 tội danh là 18 (mười tám) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2019.

Hoàng Văn T 11 (mười một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2019.

Nguyễn Bá Q 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/06/2018.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong có tổng khối lượng là 27,710 gam đều là ma túy loại Methaphetamnine, 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 cóong thủy tinh dính ma túy Methamphetamine tất cả đều có chữ ký niêm phong của Nguyễn Bá Q và giám định viên, 02 vỏ chai nhựa trên nắp có gắn ống hút bằng nhựa, 01 hộp niêm phong dán kín (bên trong là mẫu vật sau giám định) có hình dấu tròn màu đỏ của Viện khoa học hình sự - Bô Công an, có chữ ký của Giám định viên Phạm Đức Trọng thu giữ của Nguyễn Bá Q, 01 hộp niêm phong dán kín ( bên trong là mẫu vật sau giám định) có hình dấu tròn màu đỏ của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, có chữ ký của giám định viên Phạm Đức Trọng, 01 vỏ lon côcacôla màu đỏ bên trong có 73 túi nilon kích thước (1x1,5) cm, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “555”, 01 túi nilon kích thước (5x10)cm, 01 mảnh giấy bạc kích thước (7x20)cm thu giữ của Nguyễn Hữu L; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 cân điện tử và 01 cóong thủy tinh có dính ma túy Methamphetamine có chữ kí niêm phong của Nguyễn Thị H và giám định viên tạm giữ của Nguyễn Thị H.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại OPPO màu trắng, số Imei: 356760049440075, gắn sim số số thuê bao: 0975893371 thu giữ của Nguyễn Thị H; 01 điện thoại nhãn hiệu Sony phía sau bị vỡ góc, gắn sim số thuê bao: 01237634801, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen số Imei: 353299052842144 gắn sim số thuê bao: 0975494693 thu giữ của Nguyễn Bá Q; 01 điện thoại OPPO màu hồng, số thuê bao 1: 0984715860, số thuê bao 2: 01275528659, số Imei 1: 867453032632310, số Imei 2: 867453032632302, 01 điện thoại Nokia 6300 màu vàng, số Imei 353215036290887, số Imei vỏ máy 356415/02/154221/4 gắn sim số thuê bao: 01652790028 thu giữ của Nguyễn Hữu L; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia- 1280, màu đen, số Imei 354862047856880, số Imei vỏ máy 353419/04/055378/1 gắn sim số thuê bao: 01667378353; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 5, màu trắng, số Imei 013427001948363 gắn sim số thuê bao: 097833892 thu giữ của Hoàng Văn T.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/5/2019 giữa Công an huyện Đông Anh và Chị cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh).

Các bị cáo Nguyễn Hữu L, Hoàng Văn T, Nguyễn Bá Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Cỡ chữ