vanban.org

Bản án 72/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 08/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội “Chứa mại dâm”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị H 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 36 (Ba sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã W, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cùng với gia đình phối hợp giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị H - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội “Chứa mại dâm”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2019/HS - ST
Ngày: 08 - 11 – 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ửng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thùy và bà Hoàng Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoà, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa - Kiểm Sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2019 đối với các bị cáo:

Lê Thị H, sinh năm 1968 tại Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn 07, xã W, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê H; con bà Lê Thị T (đều đã chết); bị cáo có chồng là Nguyễn Văn T, sinh năm 1965 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1989; con nhỏ nhất sinh năm 1991. Bị bắt tạm giam từ ngày 01 – 7 - 2019 đến ngày 06 – 7 - 2019 được áp dụng biện pháp ngặn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.

Người làm chứng:

- Anh Trương Văn M, sinh năm 1993 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn 04, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

- Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1984 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn 06, xã R, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

- Chị Lương Ngọc Thùy C, sinh năm 1984 - Vắng mặt.

Địa chỉ: 765 L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1980 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 01/7/2019, sau khi ăn uống tại quán Sao biển thuộc TDP 5, Thị trấn K, huyện Đ, Trương Văn M đi cùng Nguyễn Thành L đến nhà nghỉ T thuộc thôn 7, xã W huyện Đ, tỉnh Đăk Nông để tìm gái bán dâm. Tại đây, M và L gặp Lê Thị H là chủ nhà nghỉ và nhờ H gọi cho 02 “em” (tức là hai gái bán dâm). Sau đó, H gọi điện cho Lương Ngọc Thùy C với nội dung: “có khách con có đi không” thì C đồng ý. Sau đó, H gặp Nguyễn Thị H1 đang thuê phòng số 07 tại nhà nghỉ. Biết Nguyễn Thị H1 là gái bán dâm nên H hỏi Nguyễn Thị H1 có bán dâm không thì Nguyễn Thị H1 đồng ý.

Sau đó, M và Lê Thị H trao đổi với nhau về giá mỗi lần mua bán dâm là 400.000 đồng nên M đưa cho H số tiền 900.000 đồng gồm 02 lượt mua bán dâm là 800.000 đồng và 100.000 đồng tiền mua nước uống và thuốc lá. Khi C đến quán, H đưa cho 02 gái bán dâm mỗi người số tiền 400.000 đồng và lấy lại số tiền 80.000 đồng tiền phòng (40.000 đồng/phòng). Sau đó, Nguyễn Thị H vào phòng số 03 để mua bán dâm với L, còn C vào phòng số 02 mua bán dâm với M. Khi 02 cặp nam nữ đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’lấp bắt quả tang.

Đồ vật, tài liệu thu giữ:

- Tại phòng số 02 nhà nghỉ T thu giữ: 02 bao cao su đã qua sử dụng, 03 bao cao su chưa qua sử dụng, 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu xanh của Trương Văn M, 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu hồng, 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám và số tiền 570.000 đồng của Lương Ngọc Thùy C.

- Tại phòng số 03 nhà nghỉ T thu giữ: 01 bao cao su đã qua sử dụng, 04 bao cao su chưa qua sử dụng, 01 điện thoại di động Sam sung A50 màu đen và số tiền 1.220.000 đồng của Nguyễn Thị H1.

- Tại phòng số 01 nhà nghỉ T thu giữ của Lê Thị H: 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen, 01 điện thoại di động Nokia 1133 màu đen, 01 quyển vở học sinh hiệu popular và số tiền 1.980.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’Lấp tạm giữ số tiền 900.000 đồng (gồm tiền mua bán dâm, tiền phòng và tiền nước) là số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội nên tiến hành chuyển vào tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án dân sự chờ xử lý.

Đối với 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu xanh của Trương Văn M, 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu hồng, 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám, số tiền 210.000 đồng của Lương Ngọc Thùy C, 01 điện thoại di động Sam sung A50 màu đen và số tiền 860.000 đồng của Nguyễn Thị H1, 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen, 01 quyển vở học sinh hiệu popular, số tiền 1.800.000 đồng của Lê Thị H không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’lấp ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 47 ngày 28/8/2019 trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với 01 điện thoại di động Nokia 1133 màu đen, 03 bao cao su đã qua sử dụng, 07 bao cao su chưa qua sử dụng là vật chứng của vụ án, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’lấp nhập kho vật chứng.

Cáo trạng số 54/Ctr-VKS ngày 02 - 10- 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đăk R’Lấp để xét xử bị cáo Lê Thị H về tội:“Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận như khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng truy tố.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

Bị cáo Lê Thị H từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị HĐXX:

Chấp nhận quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 47 ngày 28/8/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp: trả 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu xanh cho anh Trương Văn M; 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu hồng, 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám, số tiền 210.000 đồng cho chị Lương Ngọc Thùy C; 01 điện thoại di động Sam sung A50 màu đen và số tiền 860.000 đồng cho chị Nguyễn Thị H1; 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen, 01 quyển vở học sinh hiệu popular, số tiền 1.800.000 đồng cho Lê Thị H.

Trả lại cho bị cáo Lê Thị H số tiền 100.000đồng.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 800.000đồng; 01 điện thoại di động Nokia 1133 màu đen.

Tịch thu tiêu huỷ 03 bao cao su đã qua sử dụng, 07 bao cao su chưa qua sử dụng.

Tại phiên toà bị cáo không có ý kiến và bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên và bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Đăk R’Lấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Thị H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 22 giờ ngày 01 tháng 7 năm 2019, do Trương Văn M và Nguyễn Thành L có nhu cầu mua dâm nên bị cáo đã có hành vi gọi điện thoại cho Nguyễn Thị H1 và Lương Ngọc Thùy C đến nhà nghỉ do bị cáo làm chủ thuộc thôn 07, xã W, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để các đối tượng thực hiện hành vi mua bán dâm, nhằm thu lợi bất chính thì bị bắt quả tang. Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật hình sự như quyết định truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

. Xét tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng tới thuần phong mỹ tục, xâm hại đến sức khỏe con người. Do vậy, cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung tội phạm.

. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chồng bị cáo có công với cách mạng do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Kết hợp với các tình tiết giảm nhẹ nêu trên và xét tính chất, mức độ hành vi và nhân thân của bị cáo. HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo tự cải tạo bên ngoài xã hội có sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng giáo dục và đảm bảo được mục đích của hình phạt

. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 47 ngày 28/8/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp: trả 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu xanh cho anh Trương Văn M; 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu hồng, 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám, số tiền 210.000 đồng cho chị Lương Ngọc Thùy C; 01 điện thoại di động Sam sung A50 màu đen và số tiền 860.000 đồng cho chị Nguyễn Thị H1; 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen, 01 quyển vở học sinh hiệu popular, số tiền 1.800.000 đồng cho Lê Thị H.

Trả lại cho bị cáo Lê Thị H số tiền 100.000đồng.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 800.000đồng; 01 điện thoại di động Nokia 1133 màu đen.

Tịch thu tiêu huỷ 03 bao cao su đã qua sử dụng, 07 bao cao su chưa qua sử dụng.

. Về án phí: Bị cáo Lê Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội “Chứa mại dâm”.

Căn cứ khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thị H 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 36 (Ba sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã W, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cùng với gia đình phối hợp giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 của Bộ luật thi hành án hình sự.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 của Bộ luật thi hành án hình sự.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 47 ngày 28/8/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp: trả 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu xanh cho anh Trương Văn M; 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu hồng, 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám, số tiền 210.000 đồng cho chị Lương Ngọc Thùy C; 01 điện thoại di động Sam sung A50 màu đen và số tiền 860.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Hương; 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen, 01 quyển vở học sinh hiệu popular, số tiền 1.800.000 đồng cho Lê Thị H.

Trả lại cho bị cáo Lê Thị H số tiền 100.000đồng.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 800.000đồng; 01 điện thoại di động Nokia 1133 màu đen.

Tịch thu tiêu huỷ 03 bao cao su đã qua sử dụng, 07 bao cao su chưa qua sử dụng.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Thị H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tròn, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ