vanban.org

Bản án 72/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 25/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Xử phạt Đinh Quốc T 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi ) tháng. Giao bị cáo Đinh Quốc T cho UBND xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Quốc T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2019/HS-ST
Ngày 25-10-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Cường và bà Nguyễn Thị Thương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhạn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2019/TLST-ST ngày 23 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Đinh Quốc T; sinh ngày 20 tháng 01 năm 1980, tại huyện B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn P, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Xuân D và bà Nguyễn Thị Đ; vợ Quách Thị B và 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Sinh ra và lớn lên tại huyện B, tỉnh Quảng Bình học hết lớp 12/12. Năm 2000 nhập ngũ Sư Đoàn 968 (Quảng Trị) đến tháng 6/2003 xuất ngủ trở về địa phương sinh sống và lập gia đình cho đến ngày phạm tội; bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bố Trạch từ ngày 02/7/2019 đến ngày 23/9/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Bão Lĩnh”. Có mặt

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Đinh Xuân Tr, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt

+ Đinh Tuấn V, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 30/5/2019, Đinh Quốc T cùng với Nguyễn Hữu N, Đinh Tuấn V và Đinh Xuân Tr tổ chức uống bia tại nhà T. Sau đó, V về trước được ít phút thì T khởi xướng việc sử dụng ma túy và được Tr, N đồng ý; đồng thời T gọi điện thoại cho V đến cùng sử dụng. T đi ra cột điện lấy 05 viên ma túy được cất giấu từ trước đem vào nhà. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày khi T, N, V và Tr đang sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ tầng 2 nhà của T thì bị Tổ công tác Công an huyện Bố Trạch phát hiện, bắt quả tang. T, N bỏ trốn, còn lại Đinh Xuân Tr và Đinh Tuấn V bị cơ quan công an bắt giữ, thu giữ tại phòng ngủ 04 viên nén dạng thuốc tân dược màu hồng và ½ viên nén dạng thuốc tân dược màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu “WY”. Theo lời khai của Tr và V, đây là ma túy dạng hồng phiến. T, N, Tr và V đã sử dụng hết ½ viên ma túy.

Ngày 31/5/2019, Đinh Quốc T đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đầu thú. T khai: Về nguồn gốc 05 viên ma túy nói trên, T được một người đàn ông tên Dũng (Việt kiều Lào) cho vì T và D đã từng sử dụng ma túy lúc T làm việc ở bên nước Lào. T đem ma túy cất giấu tại cột điện ở gần nhà. (BL 32,33, 42-50,58).

Tại bản kết luận giám định số: 563/QĐ - PC09 ngày 07/6/2019 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Mẫu ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,479g (không phẩy bốn trăm bảy mươi chín gam). Methamphetamine ((+)-(S)-α-dimethaylphennethylamine) nằm trong danh mục các chất ma túy. Số thứ tự: 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 (BL36).

Vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ của Đinh Quốc T 4,5 viên thuốc tân dược màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có ký hiệu chữ “WY”; Sau kết quả giám định đã được niêm phong bằng 01 phong bì thư dán kín, có số: 563/GĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình (BL 40,41).

Cáo trạng số: 69/CT-VKSBT ngày 23/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình truy tố Đinh Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ Luật hình sự, tuyên xử: Đinh Quốc T mức án từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng; Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và tuyên xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện như bản cáo trạng đã truy tố và không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi phạm tội của mình đã gây ra là vi phạm pháp luật, nên rất ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét để được hưởng chính sách khoan hồng của Pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Phiên toà vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định chung.

Về hành vi phạm tội và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và tang vật được thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Xuất phát từ việc coi thường pháp luật, ngày 30/5/2019 Đinh Quốc T đã có hành vi tàng trữ 0,479gam (Không phấy bốn trăm bảy mươi chín gam) chất ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang.

Với hành vi tàng trữ trái phép chất Methamphetamine có tổng trọng lượng như trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát và bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Về nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và khả năng nhận thức pháp luật, am hiểu đời sống xã hội nhất định nên bị cáo hiểu rõ mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm. Tuy nhiên, xuất phát từ ý thức xem thường pháp luật, bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước trong độc quyền quản lý đối với các chất ma tuý mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội, gây tâm lý bất bình trong nhân dân.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án bị cáo luôn có thái độ thành khẩn trong khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; Ngày 21/10/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình có Công văn số: 85/CSĐT xác nhận Đinh Quốc T đã tích cực phối hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc cung cấp thông tin về tượng Nguyễn Tuấn V, sinh ngày 12/01/2001, trú tại Thôn C, xã S, huyện B, tỉnh Quảng Bình tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt khác, sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện thì bị cáo đã bỏ trốn nhưng ngay sau đó đã tự nguyện ra đầu thú; bị cáo có bố đẻ là ông Đinh Xuân D được Nhà nước tăng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì. Ngoài ra, Đinh Quốc T còn được UBND xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình có văn bản xác nhận: Trong quá trình sinh sống tại địa phương, Đinh Quốc T là công dân tốt, luôn chấp hành đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước; đã nhiều lần tham gia cùng với các tổ chức, đoàn thể và chính quyền trong việc ứng cứu tài sản, tính mạng của quần chúng nhân dân tại địa phương trong các đợt bão, lũ. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự Đinh Quốc T trở về địa phương và tiếp tục đăng ký tham gia sỹ quan dự bị địa phương từ tháng 6/2003 cho đến nay. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự.

Về hình phạt: Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, trong cuộc sống thường ngày bị cáo có nhiều việc làm tốt được chính quyền xác nhận. Do đó, Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, nhưng cho hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, quản lý giáo dục trong thời gian thử thách của án treo theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 65 của Bộ Luật hình sự là đã có đủ tác dụng giáo, dục răn đe đối với bị cáo, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng của pháp luật.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng....”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo nghề nghiệp là lao động tự do, không có nguồn thu nhập không ổn định cho nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bì thư dán kính, được niêm phong có số: 563/GĐ-PC-09 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, bên trong có chứa khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Liên quan đến vụ án còn có các đối tượng Đinh Xuân Tr và Đinh Tuấn V là những người cùng sử dụng ma túy với T nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, V và Tr đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Bố Trạch xử lý biện pháp hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.

Đối với Nguyễn Hữu N, sinh năm 1992, trú tại thôn P, xã L, huyện B hiện đã bỏ trốn, không có mặt tại địa phương và đối tượng tên Dũng cho T 05 viên ma túy do không xác định được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý. Vì vậy, đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục đấu tranh làm rõ trách nhiệm đối với các đối tượng này khi có đủ căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ Luật hình sự; Điều 47 của Bộ Luật hình sự và các Điều 106, Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Xử phạt Đinh Quốc T 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi ) tháng.

Giao bị cáo Đinh Quốc T cho UBND xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”

- Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đinh Quốc Trạng.

3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 bì thư dán kính, được niêm phong có số: 563/GĐ-PC-09 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, bên trong có chứa khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định.

Số tang vật nêu trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, có đặc điểm, số lượng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/9/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều Công an huyện Bố Trạch và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bố Trạch.

4. Án phí: Buộc bị cáo Đinh Quốc T phải chịu nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/10/2019)./.

Cỡ chữ