vanban.org

Bản án 72/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Phú Yên Tuyên án 16/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo – Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Phạt: Bị cáo Trần Văn T – 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 21/2019/HS-ST Tuyên án 22/07/2019
Phúc thẩm — đang xem Bản án 72/2019/HS-PT Tuyên án 16/10/2019

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo – Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2019/HS-PT
Ngày: 16/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Trúc và ông Trần Minh Nhật.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Kha – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, mở phiên tòa công khai để xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 62/HSPT/2019 ngày 23 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo Trần Văn T, do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2019/HSST ngày 22 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo có kháng cáo: Trần Văn T, sinh năm 1976; tại tỉnh Quãng Ngãi. Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyê ̣n N, tỉnh QN; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; nghề nghiệp: Lái xe; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn A, sinh năm 1930 (chết) và bà Đàm Thi ̣ B , sinh năm 1936 (chết); có vợ Lê Thi ̣ D , sinh năm 1985 và 02 con, lớ n sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 14/12/2018, Trần Văn T (có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô tải biển số 76C-07536 lưu hành theo hướ ng Nam – Bắc; đến đoạn ngoặt vòng trái Đèo Cù Mông tại Km 1245+330m QL 1A, thuô ̣c thôn Long Tha ̣nh, xã Xuân Lộc, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên; thấy xe Container điều khiển phia trướ c cùng chiều đang lên dốc , T điều khiển xe ô tô tải lấn sang phần

́ đường bên trái, vượt lên đến đầu xe C ontainer thi va chạm với xe mô tô biển số

̀ 77G1-28505 do Mai Văn Ng điều khiển ngược chiều gây tai na ̣n . Hâ ̣u quả , Mai Văn Nghiêm chết do: Đa chấn thương, gãy vỡ nhiều xương, nhiều phủ ta ̣ng dâ ̣p, vỡ phòi ra ngoài; xe mô tô hư hỏng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2019/HSST ngày 22 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thi ̣ xa SC đã tuyên bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quỹ định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt: Bị cáo Trần Văn T 09(Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/7/2019 bị cáo Trần Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưở ng án treo.

Ngày 05/8/2019 đại diện hợp pháp của người bị hại bà Lê Thị N có đơn xin miễm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Văn T.

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 356 Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người làm chứng; biên bản khám nghiệm, sơ đồ hiện trường; kết luận giám định pháp y và các chứng cứ tiều liệu có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 14/12/2018, Trần Văn T điều khiển xe ô tô tải biển số 76C-07536 lên đèo, nơi đường vòng cua, đi không đúng phần đường, vượt xe cùng chiều gây tai nạn với xe ngược chiều, làm chết một người, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, đã vi phạm khoản 1 Điều 9; điểm c khoản 5 Điều 14 Luâ ̣t giao thông đườ ng bô ̣; nên cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng tội.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, làm thiệt hại tính mạng của người bị hại, nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt là có căn cứ. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường số tiền 210.000.000 đồng để khắc phục toàn bộ thiệt hại, được đại diện hợp pháp của người bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự. Mặt khác, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu vi phạm pháp luật; sau khi xét xử sơ thẩm đại diện hợp pháp của người bị hại tiếp tục làm đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, vì bị cáo là lao động chính, hai con còn nhỏ, vợ bị cáo không có nghề nghiệp ổn định thường xuyên đau bệnh; bản thân bị cáo đã có thời gian phục vụ trong quân đội nhân dân Việt Nam, từng bị tai nạn giao thông đi lại khó khăn; có ông, bà, cha, mẹ đều là người có công với cách mạng, trong đó mẹ bị cáo là thương binh trong kháng chiến chống Mĩ; bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, trong đó có tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Thể hiện chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với với gia đình có công, nên chấp nhận một phần kháng cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên không xét.

Bị cáo kháng cáo được chấp nhận không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo – Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Phạt: Bị cáo Trần Văn T – 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Bị cáo Trần Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ