- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Anh Trần Hoàng Kh đối với chị Lê Thị Phương Th.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72 /2019/HNGĐ-ST Ngày: 18-10- 2019 “Xin ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quang Nghiêm 2. Ông Trần Tú Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Điền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.
Hôm nay, ngày 18 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 173/2019/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2019 về tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2019/QĐXX- ST, ngày 06 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Hoàng Kh, sinh năm 1980 nơi cư trú tổ 07, ấp Hòa H, xã Nguyễn Văn Th, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long. ( Có mặt)
2. Bị đơn: Chị Lê Thị Phương Th, sinh năm 1982 nơi cư trú tổ 07, ấp Hòa H, xã Nguyễn Văn Th, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long. ( Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản khai đề ngày 08/7/2019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn anh Trần Hoàng Kh trình bày:
Vào năm 2001 Anh Kh và chị Lê Thị Phương Th do quen biết nhau được gia đình chấp thuận có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Thạnh Tr, huyện Tam B, tỉnh Vĩnh Long được cấp giấy chứng nhận ngày 01/10/2001. Nữ trang cưới có 05 chỉ vàng 24k và 05 chỉ vàng 18k vợ chồng đã bán tiêu xài hết không còn.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại ấp Hòa H, xã Nguyễn Văn Th, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long, hạnh phúc được 07 năm, anh chị có 02 con chung tên Trần Minh Q, sinh ngày 18/11/2001 và cháu Trần Thị Kim Q1 sinh ngày 09/10/2002 hiện đang sống cùng anh Kh. Anh Kh và chị Th sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẩn do anh Kh phát hiện chị Th có quan hệ bất chính với người đàn ông khác nên không quan tâm chăm sóc gia đình cho nên vợ chồng hay cự cải nhau, anh Kh đã khuyên chị Th nhiều lần để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành nên từ năm 2010 đến nay anh Kh và chị Th đã sống ly thân, mỗi người có cuộc sống riêng, tình cảm vợ chồng không còn, sống chung không hạnh phúc do đó anh Kh yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Về hôn nhân: Anh Trần Hoàng Kh xin ly hôn với chị Lê Thị Phương Th.
Về con chung: Cháu Trần Minh Q, sinh ngày 18/11/2001 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết, cháu Trần Thị Kim Q1, sinh ngày 09/10/2002 anh Kh yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản: Không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
* Ý kiến trình bày của bị đơn chị Lê Thị Phương Th:
Từ khi thụ lý vụ án đến ngày xét xử sơ thẩm bị đơn chị Th hoàn toàn không có ý kiến gì gửi cho Tòa án.
* Ý kiến trình bày của cháu Trần Thị Kim Q1: Tại bản khai ngày 08/7/2019 cháu Q1 có ý kiến nếu cha mẹ ly hôn cháu muốn sống với cha.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn anh Kh vẫn giữ yêu cầu khởi kiện chị Lê Thị Phương Th. Về hôn nhân anh Trần Hoàng Kh yêu cầu ly hôn với chị Lê Thị Phương Th. Về con chung: Cháu Trần Minh Q, sinh ngày 18/11/2001 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết, cháu Trần Thị Kim Q1, sinh ngày 09/10/2002 anh Kh yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản: Không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Anh Trần Hoàng Kh có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Tân giải quyết ly hôn chị Lê Thị Phương Th cư trú tại ấp Hòa H, xã Nguyễn Văn Th, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
Từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, được triệu tập hợp lệ dự phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải các ngày 14/8/2019, ngày 06/9/2019, triệu tập tham dự phiên tòa vào các ngày 20/9/2019 và ngày 18/10/2019 cho chị Lê Thị Phương Th đúng theo quy định của pháp luật nhưng chị Th hoàn toàn không có ý kiến gì gửi cho Tòa án, cũng như tại phiên tòa hôm nay vắng mặt chị Th. Do đó, căn cứ Khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Lê Thị Phương Th.
Về nội dung:
[ 2.1] Về quan hệ hôn nhân anh Trần Hoàng Kh và chị Lê Thị Phương Th có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Thạnh Tr, huyện Tam B, tỉnh Vĩnh Long được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/10/2001 đúng theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận. Xét yêu cầu của anh Trần Hoàng Kh xin ly hôn chị Lê Thị Phương Th hoàn toàn có cơ sở, bởi vì về mâu thuẩn vợ chồng giữa anh Kh và chị Th là trầm trọng, vợ chồng có thời gian sống ly thân rất lâu từ năm 2010 đến nay, anh Kh xác định không còn tình cảm với chị Th nên không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, cho nên mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Trần Hoàng Kh được ly hôn với chị Lê Thị Phương Th.
Về con chung: Cháu Trần Thị Kim Q1, sinh ngày 09/10/2002 anh Kh yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung của anh Kh thì từ khi anh Kh và chị Th sống ly thân đến nay anh Kh nuôi cháu Q1 cũng đảm bảo tốt mọi mặt đời sống sinh hoạt của cháu Q1 cho nên để đảm bảo cho cháu Q1 ổn định đời sống sinh hoạt, cũng như điều kiện cho sự phát triển thể chất, tinh thần cho cháu Q1. Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu Q1 cho anh Kh tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với nguyện vọng của cháu Q1. Chị Th không trực tiếp nuôi con chung nhưng có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, anh Kh không được ngăn cản. Về cấp dưỡng nuôi con anh Kh không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về quan hệ tài sản: Anh Trần Hoàng Kh không tranh chấp không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Anh Trần Hoàng Kh phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 9, Điều 56, 81,82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Anh Trần Hoàng Kh đối với chị Lê Thị Phương Th. Cho Anh Trần Hoàng Kh ly hôn với chị Lê Thị Phương Th.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Thị Kim Q1, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2002 cho Anh Trần Hoàng Kh tiếp tục nuôi dưỡng, chị Lê Thị Phương Th không phải cấp dưỡng nuôi con. Quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ sau khi ly hôn đối với việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung được thực hiện theo Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về quan hệ tài sản: Anh Trần Hoàng Kh không tranh chấp không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc Anh Trần Hoàng Kh phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo lai thu số 0011065 ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân. Vậy Anh Trần Hoàng Kh đã nộp đủ không phải nộp thêm.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Án xử công khai nguyên đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn chị Lê Thị Phương Th vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND. Tỉnh Vĩnh Long 01; - VKSND.H Bình Tân 01; - Chi cục THADS.H Bình Tân 01; - UBND xã Mỹ Thạnh Tr 01; - Các đương sự 02; - Lưu hồ sơ 02. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký tên, đóng dấu) Nguyễn Thị Hồng Diễm |