- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Hà Ngọc B phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Hà Ngọc B 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2018/ HSST Ngày 04 tháng 9 năm 2018 |
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B- TỈNH B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Duy Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thạch Hương
2. Bà Dư Thị Út
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Kép – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh B tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Như – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73A/2018/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Ngọc B, sinh năm 1968 tại Cà Mau; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm 8, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Ki ốt số 52 chợ Cầu Xáng, Khóm A, Phường B, thành phố B, tỉnh B; Nghề nghiệp: làm thuê; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 3/12; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Thoại M, sinh năm 1926 (đã chết) và bà Nguyễn Kim C, sinh năm 1928 (đã chết); Anh, chị, em ruột: có 07 người, lớn nhất sinh năm 1956, nhỏ nhất sinh năm 1974; Có chồng tên Chung Văn H (còn gọi là Trung Văn H), sinh năm 1963 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: không; Bị khởi tố bị can ngày 12/4/2018 và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 12/6/2018. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại ki ốt số 52 chợ Cầu Xáng, thuộc Khóm A, Phường B, thành phố B, tỉnh B có đối tượng thực hiện hành vi ghi số đề, nên khoảng 15 giờ ngày 09/02/2018, lực lượng Công an thành phố B tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện Hà Ngọc B có biểu hiện ghi số đề nên tiến hành tạm giữ trên người của B số tiền 5.014.000 đồng, kiểm tra khu vực xung quanh B ngồi tạm giữ: 01 tờ giấy tập học sinh có ghi hệ thống các con số nghi là phơi số đề được đánh số thứ tự 1; 02 tờ giấy tập học sinh bên dưới có chữ HP BOOK ở từng mặt có ghi hệ thống các con số nghi là phơi số đề được đánh số thứ tự 2 và 3; 01 quyển tập học sinh bìa màu xanh có dòng chữ Cty TNHH giấy tập học sinh Hiệp Phong; 01 quyển tập học sinh bìa màu xanh có chữ SUBARU Note book; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; 01 máy tính cầm tay hiệu Casio fx500MS; 01 cây viết mực màu xanh.
Quá trình điều tra bị cáo Hà Ngọc B thừa nhận: trong khoảng thời gian từ tháng 01/2018 đến ngày 09/02/2018, tại ki ốt số 52 chợ Cầu Xáng, thuộc Khóm A, Phường B, thành phố B, tỉnh B, lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh Miền Nam, bị cáo B đã nhiều lần thực hiện hành vi ghi số đề trực tiếp thắng thua bằng tiền với người đặt số nhằm thu lợi bất chính. Hình thức ghi số đề là: số đầu, số đuôi, số lô 02 con và số đá; tỷ lệ thắng thua số đầu, số đuôi, số lô 02 con đặt 01 trúng 80 lần, số đá đặt 01 trúng 600 lần. Đối với số đầu, số đuôi thu tiền bằng với số tiền đặt; số lô 02 con thu tiền gấp 15 lần số tiền đặt; số đá thu tiền gấp 30 lần số tiền đặt. Về số tiền ghi đề thể hiện trên phơi số, bị cáo B ghi giảm bớt 03 con số 0 ở hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị.
Cách thức ghi số đề là người chơi trực tiếp đến gặp B đọc những con số cần đặt và số tiền cần đặt, hoặc đưa tờ giấy viết sẵn cho B, đưa tiền trong ngày, sau đó B tổng hợp ghi vào tờ phơi, đến khi có kết quả xổ số sẽ đối chiếu số trúng để tính thắng thua với người chơi.
Kết quả đối chiếu các phơi đề, căn cứ Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cụ thể như sau:
- Tờ phơi số 1, ghi vào ngày 09/02/2018 dựa theo kết quả xổ số kiến thiết đài Trà Vinh, kết quả cộng phơi số đề là 3.644.000 đồng, phát hiện trước khi có kết quả xổ số nên không đối chiếu số trúng. Tổng số tiền dùng đánh bạc là 3.644.000 đồng.
- Tờ phơi số 2, ghi vào ngày 23/01/2018 dựa theo kết quả xổ số kiến thiết đài B, kết quả cộng phơi số đề là 5.307.000 đồng, đối chiếu kết quả xổ số trúng số tiền là 10.560.000 đồng. Tổng số tiền dùng đánh bạc là 15.867.000 đồng.
Tờ phơi số 3 không nhớ rõ ngày ghi và dựa theo kết quả xổ số đài nào nên không đối chiếu số trúng, kết quả cộng phơi số đề là 1.245.000 đồng. Tổng số tiền dùng đánh bạc là 1.245.000 đồng.
Căn cứ kết luận giám định số 100/GĐ-2018 ngày 03/5/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B xác định phơi số 1, 2, 3 do Hà Ngọc B viết ra.
Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKS ngày 11/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo Hà Ngọc B về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
1/. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hà Ngọc B từ 03 (ba) tháng đến 05 (năm) tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm.
2/. Về vật chứng: tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 máy tính cầm tay hiệu Casio fx500MS, tịch thu và tiêu hủy 01 cây viết mực màu xanh.
3/. Về án phí: buộc bị cáo Hà Ngọc B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong ngày 23/01/2018, bị cáo Hà Ngọc B có hành vi lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết của đài B để đánh bạc trái phép bằng hình thức ghi số đề thắng thua bằng tiền với người khác tại Khóm A, Phường B, thành phố B, tỉnh B, số tiền đánh bạc là 15.867.000 đồng. Vì vậy, hành vi của bị cáo B đã bị khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can là phù hợp. Bên cạnh đó, quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Đối với lời khai nhận tội của bị cáo B tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người tham gia đặt số về thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm, cách thức, tỷ lệ thắng thua và số tiền tham gia đánh bạc; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản cộng phơi số đề, biên bản xác định các con số dùng để đánh đề và đối chiếu số trúng…
Áp dụng Nghị quyết 01/2010 ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì số tiền bị cáo Hà Ngọc B dùng vào việc đánh bạc vào ngày 23/01/2018 của đài B là 15.867.000 đồng là tổng số tiền đặt và số tiền trúng.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: vì động cơ vụ lợi bất chính, tại ki ốt số 52 chợ Cầu Xáng, Khóm A, Phường B, thành phố B, tỉnh B, bị cáo Hà Ngọc B đã lợi dụng vào kết quả xổ số kiến thiết của Nhà nước để đánh bạc bằng hình thức ghi số đề thắng thua bằng tiền với người khác, với số tiền dùng để đánh bạc ngày 23/01/2018 của đài B là 15.867.000 đồng.
Bị cáo B có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo biết rõ hành vi ghi số đề thắng thua bằng tiền với người khác của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên hành vi nêu trên của bị cáo B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi ghi số đề được thua bằng tiền của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần phải được xử lý nghiêm để không chỉ có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo mà còn mang tính phòng ngừa chung trong xã hội và cần thiết cho yêu cầu đấu tranh với loại tội phạm đánh bạc trong tình hình hiện nay. Vì vậy, cần phải có một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho xã hội và biết tuân thủ qui định của pháp luật.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.
Ngoài việc buộc bị cáo phải chịu hình phạt chính cần tuyên buộc hình phạt bổ sung là phạt tiền để đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo và còn có tác dụng giáo dục đối với các hành vi phạm tội tương tự xảy ra.
Về vật chứng:
- Đối với 03 tờ giấy tập học sinh có ghi các con số đánh thứ tự 1, 2, 3 đã thu giữ trong quá trình bắt quả tang là căn cứ để xác định tội danh đối với bị cáo nên cơ quan điều tra đã lưu hồ sơ vụ án là phù hợp.
- Đối với 01 máy tính cầm tay hiệu Casio fx500MS bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 cây viết mực màu xanh do bị cáo dùng vào việc đánh bạc và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với tiền Việt Nam 5.014.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung GT-E1200Y, 02 (hai) quyển tập học sinh không có liên quan đến vụ án nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo B là phù hợp.
Đối với các hành vi đánh bạc của bị cáo Hà Ngọc B tại phơi số 1 ngày 09/02/2018, phơi số 3 không xác định ngày và của Thạch Thị Như H (còn gọi là Dì Ba) với số tiền dưới 5.000.000 đồng, chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nên chỉ bị xử phạt hành chính là phù hợp.
Đối với Lâm Thị C, ngoài lời khai của bị cáo B không còn chứng cứ nào khác chứng minh có hành vi tham gia đánh bạc, hiện nay không có mặt tại địa phương nên cơ quan điều tra tiếp tục làm việc xử lý sau là phù hợp.
Tại phiên toà, đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, thấy rằng: đối với hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở phần trên thì cần có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đủ để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, do đó chỉ chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận việc áp dụng khoản 3 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo .
Về án phí: bị cáo Hà Ngọc B phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Hà Ngọc B phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Hà Ngọc B 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Hà Ngọc B phải nộp phạt số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01(một) máy tính cầm tay hiệu Casio fx500MS, màu xanh, đã qua sử dụng.
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) cây viết mực màu xanh, trên vỏ có chữ Frerdee, đã qua sử dụng.
Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh B, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/7/2018.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Hà Ngọc B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 04/9/2018.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh B; - VKSND TP. B; - Sở tư pháp - Nhà tạm giữ TP B; - Công an TP B; - Chi cục thi hành án dân sự TP B; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Duy Khánh |