vanban.org

Bản án 72/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 27/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Huỳnh Phan Anh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Huỳnh Phan Anh Đ 03 (Ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/3/2018. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Phan Anh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Huỳnh Phan Anh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CHIỂU – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2018/HSST
Ngày: 27/7/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, TP. ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Cúc

- Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Ngô Văn Sỹ.

- Ông Nguyễn Công Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Tiến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2018/TLST-HS ngày 18/6/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2018/QĐXXST-HS ngày 13/7/2018 đối với bị cáo:

Huỳnh Phan Anh Đ; Tên gọi khác: C; Sinh ngày: 01 tháng 8 năm 1984 tại thành phố Đà Nẵng. Nơi cư trú: Tổ 01, phường B, quận H, TP Đ. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 9/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Cha: Không rõ. Mẹ: Bà Phan Thị H. Vợ: Nguyễn Thị Đ H1 và có 01con, sinh năm 2017.

- Tiền sự: Chưa.

- Tiền án: Ngày 18/5/2009, bị TAND quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Nhân thân:

+ Ngày 05/12/2001, bị Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Cướp tài sản”.

+ Ngày 17/3/2004, bị UBND TP. Đà Nẵng đưa vào Trung tâm Giáo dục Dạy nghề 05 – 06 trong thời hạn 18 tháng (Theo Quyết định: Số 1899/QĐ-UB của Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng).

Bị cáo bị bắt ngày 14/3/2018. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Phan Thị H – Sinh năm: 1966. Địa chỉ: Tổ 01, phường B, quận H, thành phố Đ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09h00’ ngày 14/3/2018, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Huỳnh Phan Anh Đ đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43R1-xxxx đi từ nhà trọ tại H181 đường N, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng đến một kiệt trên đường Lê Duẩn, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng gặp một nam thanh niên tên B (không rõ nhân thân lai lịch) để mua 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đ bỏ gói ma túy vào túi quần phía trước bên trái rồi điều khiển xe mô tô nói trên đến đoạn ngã ba đường Tôn Đức Thắng giao đường Hoàng Văn Thái thuộc tổ 116, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng thì bị lực lượng Đồn Biên phòng Hải Vân thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng TP. Đà Nẵng thấy có biểu hiện nghi ngờ nên tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện, thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của Đ 01 gói giấy bạc màu trắng có kích thước 1,9cm x 1cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng là chất ma túy loại heroin (Ký hiệu A1) và các tang vật khác có liên quan.

Theo Kết luận giám định số 34/GĐ-MT ngày 16/3/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu A1 là ma túy, loại Heroin; khối lượng mẫu chất bột là: 0,199 gam.

Quá trình điều tra, Huỳnh Phan Anh Đ khai nhận: Từ giữa tháng 02/2018 đến trước ngày bị bắt, Đ còn mua ma túy của B 10 lần khác, mỗi lần 01 gói ma túy loại Heroin với giá từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng tại nhiều địa điểm khác nhau trên đường Lê Duẩn, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng với mục đích sử dụng cá nhân.

* Vật chứng thu giữ:

- Tang vật chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu tạm thời quản lý gồm: Toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định; Số tiền 240.000 đồng (Hai trăm bốn mươi nghìn đồng); 01 điện thoại di động hiệu Vertu màu đỏ, viền vàng có gắn sim số thuê bao: 0935xxxxxx; 01 Giấy phép lái xe số: L04xxxx; 01 Giấy chứng minh nhân dân số: 201xxxxxx và 01 thẻ điều trị - M số: 000xxxx (Các giấy tờ này đều mang tên Huỳnh Phan Anh Đ).

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đỏ đen có biển kiểm soát: 43R1-xxxx và 01 giấy đăng ký xe mô tô nói trên do bà Phan Thị H, (trú tại Tổ 01, phường B, quận H, TP Đ) đứng tên chủ sở hữu. Bà H cho Đ mượn xe để sử dụng nhưng không biết Đ dùng xe mô tô vào việc phạm tội nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý và ngày 02/5/2018 đã trả lại xe cho Bà H. Bà H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 18/6/2018 bị cáo Huỳnh Phan Anh Đ bị Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a, c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo Huỳnh Phan Anh Đ, đề nghị HĐXX:

- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS Xử phạt: Huỳnh Phan Anh Đ từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị giải quyết về xử lý vật chứng như đã đề cập tại bản cáo trạng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Phan Anh Đ đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Đ cho rằng cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a, c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội. Bị cáo đã thấy được sai trái, ăn năn hối cãi, hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với tang vật chứng đã thu giữ, kết quả giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 09h30’ ngày 14/3/2018 tại đoạn ngã ba đường Tôn Đức Thắng giao nhau với đường Hoàng Văn Thái thuộc tổ 116, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng, Huỳnh Phan Anh Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy loại Heroin có khối lượng 0,199 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Đồn Biên phòng Hải Vân thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng TP. Đà Nẵng kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Huỳnh Phan Anh Đ phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như bản cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 18/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội.

ơ[3] Xét tính chất nghiêm trọng của vụ án, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy: Ma túy là tệ nạn xã hội, không những trực tiếp gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người mà còn để lại hậu quả nghiêm trọng cho các thế hệ mai sau. Bị cáo Huỳnh Phan Anh Đ nhận thức rõ tác hại to lớn đó, nhưng đã mua ma túy của một thanh niên tên B(không rõ lai lịch) đang tàng trữ trong người thì bị bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Huỳnh Phan Anh Đ đã phạm vào điểm a, c khoản 1 Điều 249 BLHS có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Do đó cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm minh mới có đủ tác dụng giáo dục riêng và ngăn ngừa chung.

Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ để giảm cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

- Đối với bị cáo Huỳnh Phan Anh Đ do hoàn cảnh gia đình khó khăn, HĐXX thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo cũng thỏa đáng.

Trong vụ án này, đối tượng nam thanh niên tên B có hành vi bán ma túy cho Huỳnh Phan Anh Đ, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục điều tra xử lý sau.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đỏ đen có biển kiểm soát: 43R1-xxxx và 01 giấy đăng ký xe mô tô nói trên do bà Phan Thị H, trú tại Tổ 01, phường B, quận H, TP Đ đứng tên chủ sở hữu. Bà H cho Đ mượn xe để sử dụng nhưng không biết Đ dùng xe mô tô vào việc phạm tội nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý và ngày 02/5/2018 đã trả lại xe cho Bà H. Bà H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập.

Về xử lý vật chứng: Sau khi vụ án được phát hiện, cơ quan điều tra đã thu giữ của Huỳnh Phan Anh Đ gồm 0,199 gam ma túy sau khi giám định còn lại đã được niêm phong; số tiền 240.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Vertu màu đỏ, viền vàng có gắn sim số thuê bao 0935xxxxxx; 01 Giấy phép lái xe số: L04xxxx; 01 Giấy chứng minh nhân dân số 201xxxxxx và 01 thẻ điều trị - M số 000xxxx (Các giấy tờ này đều mang tên Huỳnh Phan Anh Đ).

Hội đồng xét xử thấy rằng:

- Số tiền 240.000 đồng (Hai trăm bốn mươi nghìn đồng); 01 điện thoại di động hiệu Vertu màu đỏ, viền vàng có gắn sim số thuê bao 0935xxxxxx; 01 Giấy phép lái xe số: L04xxxx; 01 Giấy chứng minh nhân dân số 201xxxxxx và 01 thẻ điều trị - M số 000xxxx (Các giấy tờ này đều mang tên Huỳnh Phan Anh Đ) không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Đ, nhưng tiếp tục quy trữ số tiền 240.000 đồng để đảm bảo thi hành án đối với số tiền án phí, số tiền còn lại trả cho Huỳnh Phan Anh Đ.

Tang vật còn lại tịch thu tiêu hủy.

7] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Huỳnh Phan Anh Đ phải chịu 200.000 đồng án phí HS-ST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố:

Bị cáo Huỳnh Phan Anh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt:

- Huỳnh Phan Anh Đ 03 (Ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/3/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS.

- Tịch thu toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 34/GĐ-MT ngày 16/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP. Đà Nẵng để tiêu hủy.

- Trả lại cho Huỳnh Phan Anh Đ 01 điện thoại di động hiệu Vertu màu đỏ, viền vàng; 01 sim điện thoại di động số thuê bao 0935xxxxxx; 01 Giấy phép lái xe số L04xxxx; 01 Giấy chứng minh nhân dân số 201xxxxxx và 01 thẻ điều trị - M số 000xxxx (Các giấy tờ này đều mang tên Huỳnh Phan Anh Đ).

- Trả lại cho Huỳnh Phan Anh Đ số tiền 240.000 đồng nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án về tiền án phí, số tiền còn lại trả cho Huỳnh Phan Anh Đ.

Toàn bộ tang vật trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/7/2018.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Phan Anh Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn).

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ