- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Th - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Th– Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2018/HS-PT. Ngày: 05-3-2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Triết.
Ông Trần Duy Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy- Kiểm sát viên.
Ngày 05/3/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đ ắk Lắ k, xét xử phú c thẩ m công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số : 30/2018/TLPT-HS ngày 12/01/2018 đố i vớ i bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Cố ý gây thương tí ch”. Do có kháng cáo của bị cáo đố i vớ i bả n á n hì nh sự sơ thẩ m số : 141/2016/HSST ngày 26/7/2016 của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk và Quyết định Giám đốc thẩm số 03/2017/HS-GĐT ngày 12/12/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: NGUYỄN VĂN TH - Sinh ngà y 29/9/1993, tại tỉnh Quảng Ngãi.
Nơi cư trú : Thôn M, xã E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễ n Văn L và bà Nguy ễn Thị Lệ Th; có vợ là Nguyễn Thị Kim H và có 01 con sinh năm 2015; Tiề n á n, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 12/8/2015 đến ngày 26/10/2015 đượ c thay đ ổi biệ n phá p ngăn chặ n cho gia đình bảo lĩnh tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
+ Người bị hại: Anh Dương Ngọc T – Sinh năm 1997.
Nơi cư trú : Thôn B, xã E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 11 tháng 8 năm 2015, Dương Ngọc T đang ngồi uống rượu với Lưu Quang D, Trần Thanh Th, Trần Mạnh V và Văn Hữu K tại hội trường thôn S, xã E, huyện H. Trong lúc uống rượu thì Lưu Quang D gọi Nguyễn Văn Th và Trần Đình D đang chơi bida tại quán TL gần bên sang cùng uống rượu. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, trong lúc đang ngồi uống rượu với nhau thì Th nói với T “Tao đang nói chuyện sao mày xen ngang”, T nói lại “Mày nói kệ mày, tao nói kệ tao”, nên giữa T và Th xảy ra cãi nhau rồi dẫn đến xô xát với nhau; Th lấy con dao Thái Lan trong túi quần ra đâm T nhưng không trúng và được mọi người can ngăn nên Th chạy qua quán bida TL nhưng giữa Th và T tiếp tục có những lời lẽ thách thức nhau. Lúc này, T nhặt một viên gạch 6 lỗ chạy vào cổng quán bida TL, còn T cầm dao Thái Lan chạy ra; T cầm viên gạch đánh Th nhưng Th đã dùng tay trái đỡ nên viên gạch rơi xuống đất, Th cầm dao Thái Lan đâm 02 nhát trúng bụng và 01 nhát trúng vai phải của T, Th cầm dao bỏ chạy, còn T thì được mọi người đưa đi cấp cứu.
Tại bản kết luận pháp y thương tích số: 836/PY-TgT ngày 14/8/2015 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Dương Ngọc T bị đa thương, thủng phổi phải, tràn khí chảy máu màng phổi, mổ dẫn lưu, tỷ lệ thương tích: 35%; Vật gây thương tích: Sắc nhọn.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 141/2015/HSST ngày 30/11/2015 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 104; Điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn Th 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2015 đến ngày 26/10/2015.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 07/12/2015 bị cáo Nguyễ n Văn Th kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Ngày 06/12/2015 người bị hại anh Dương Ngọc T kháng cáo xin cho bị cáo Nguyễn Văn Th đượ c hưở ng á n treo.
Tại bản án hình sự phúc thẩm số 335/2016/HSPT ngày 09/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định: Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại Quyết định Giám đốc thẩm số 03/2017/HS-GĐT ngày 12/12/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, quyết định: Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 335/2016/HSPT ngày 09/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk theo hướng không cho bị cáo Nguyễn Văn Th hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm cũng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt 03 năm tù đối với bị cáo là nhẹ và không thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo bị truy tố và xét xử ở khoản 3 Điều 104 BLHS với khung hình phạt từ 5 năm đến 15 năm tù, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo 03 năm tù nhưng không áp dụng Điều 47 BLHS là thiếu sót nên cần xem xét áp dụng cho đầy đủ. Do vậy, đề nghị HĐXX: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 BLTTHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn Th 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2015 đến ngày 26/10/2015.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo không bào chữa tranh luận gì chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin được hưởng án treo.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒ A Á N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn Th tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 11/8/2015, bị cáo Nguyễn Văn Th và bị hại Dương Ngọc T xảy ra cãi nhau, dẫn đến xô xát với nhau. Th lấy con dao Thái lan dài 22cm, cán gỗ, lưỡi bằng kim loại sắc nhọn do Th mang theo sẵn trong túi quần đâm anh T 01 nhát trúng ngực phải, 01 nhát trúng ngực trái và 01 nhát trúng vai phải của T, gây thương tích với tỷ lệ 35%.
[2] Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Cố ý gây thương tí ch” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 đượ c sử a đổ i , bổ sung năm 2009 là có căn cứ pháp lý, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, mứ c hì nh phạ t 03 năm tù mà cấ p sơ thẩ m tuyên phạ t bị cá o là nhẹ, chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Bị cáo bị truy tố, xét xử theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt từ 5 năm đến 15 năm tù, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 03 năm tù, không áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 1999 (Sửa đổi bổ sung năm 2009) là thiếu xót nên Tòa án cấp phúc thẩm cần xem xét. Sau đó, tại bản án phúc thẩm số 335/2016/HSPT ngày 09/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk áp dụng Điều 47, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009), chấp nhận một phần kháng cáo, cho bị cáo được hưởng án treo là không thỏa đáng, không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên tại bản án Giám đốc thẩm số 03/2017/HS-GĐT ngày 12/12/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã tuyên hủy bản án số 335/2016/HSPT ngày 09/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk theo hướng không cho bị cáo Th được hưởng án treo.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn Th, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo bị truy tố, xét xử theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009), có khung hình phạt từ 5 năm đến 15 năm tù, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm tù là nhẹ và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cũng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về mức hình phạt.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Do không chấp nhận đơn kháng cáo nên bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Th– Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam, từ ngày 12/8/2015 đến ngày 26/10/2015.
[2] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu 200.000đ án phí Hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Ea H’leo; - VKSND huyện Ea H’leo; - Công an huyện Ea H’leo; - Chi cục huyện H; - Những người TGTT; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hằng |