vanban.org

Bản án 72/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trương Thị Minh C được ly hôn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và Gia đình - Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 72/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 15-3-2018
V/v tranh chấp về “Hôn nhân
và Gia đình - Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Sức.

2. Ông Lê Văn Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện PT, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang tham gia phiên

tòa: Ông Lê Hữu Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện PT xét xử sơ thẩm

công khai vụ án thụ lý số 388/2017/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2017 về

tranh chấp “Hôn nhân và gia đình – Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử

số: 19/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị Minh C, sinh năm 1993. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp BT 2, xã BTĐ, huyện PT, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Ngô Minh T, sinh năm 1985. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp HT, xã HX, huyện PT, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 11 tháng 12 năm 2017 nguyên đơn là chị Trương

Thị Minh C trình bày:

Vào năm 2010, chị và anh T tìm hiểu nhau và thành vợ chồng, có tổ lễ cưới,

đến năm 2012 thì đăng ký kết hôn được UBND xã HX, huyện PT, tỉnh An Giang

cấp giấy Chứng nhận kết hôn số 81/2012 ngày 24/8/2012. Sau khi thành vợ chồng,

thời gian đầu chị với anh T chung sống có hạnh phúc, đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi do bất đồng quan điểm sống, anh T không lo cho vợ con, anh còn dùng những lời lẽ nặng nhẹ xúc phạm chị mỗi khi anh có rượu. Nhận thấy không thể nào chung sống với anh T được nữa nên chị bỏ đi và chính thức ly thân từ tháng 06/2016 đến nay.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 đứa con chung là cháu

Ngô Thị Như Y, sinh ngày 24/7/2012 hiện do chị đang nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Được ly hôn với anh Ngô Minh T.

- Về con chung: Được tiếp tục nuôi con chung là cháu Ngô Thị Như Y, sinh

ngày 24/7/2012, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Ngô Minh T đã được Tòa án niêm yết Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn

không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải đến lần thứ hai; triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh vẫn vắng mặt, không rõ lí do.

Chị C có đơn xin xét xử vắng mặt do bận đi làm ăn xa.

Theo biên bản xác minh ngày 23/2/2018 của Tòa án nhân dân huyện PT đối

với anh ruột của anh T là anh Ngô Hoàng Trúc xác định khoảng năm 2011 anh T, chị C thành vợ chồng có tổ chức lễ cưới, khoảng 01 năm sau cả hai cùng đi Bình Dương làm ăn, thỉnh thoảng Tết, Lễ hay có đám tiệc thì vợ chồng T có về quê, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Đến khoảng năm 2017, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, gia đình C có khuyên ngăn, hàn gắn nhưng không được và vợ chồng ly thân cho đến nay không còn về chung nữa, gia đình T không ai động viên vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ vì T đã trưởng thành tự quyết định được.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng như sau:

Tòa án tiến hành thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án cũng như ban hành văn bản tố tụng, cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng đúng quy định.

Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa anh T, chị C là hôn nhân hợp pháp, anh

chị đã chấm dứt quan hệ vợ chồng từ tháng 06/2016 cho đến nay không ai quan tâm đến ai, theo lời khai của anh Trúc là anh ruột của anh T thì từ khi vợ chồng ly thân anh T không có lần nào gặp chị C để hàn gắn vợ chồng nên chị C yêu cầu ly hôn là có căn cứ. Về con chung, từ trước đến nay cháu Ngô Thị Như Y, sinh ngày 24/7/2012 do chị C nuôi dưỡng có môi trường sống tốt, ổn định và chị cũng có đầy

đủ điều kiện để tiếp tục nuôi dưỡng cháu nên cần chấp nhận yêu cầu được nuôi con

của chị C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận

định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Chị C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn

với anh T nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia

đình – ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh T với tư cách là bị đơn trong vụ kiện có nơi cư

trú tại ấp HT, xã HX, huyện PT, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a

khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc

thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang.

Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại

phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của anh không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của

anh và không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét

xử vắng mặt anh là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố

tụng dân sự.

Chị C có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử

vắng mặt chị là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh T tổ chức lễ cưới vào năm 2010 đến năm

2012 thì đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã HX, huyện PT, tỉnh An

Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 81/2012 ngày 24/8/2012 nên hôn nhân của

anh, chị là hợp pháp. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 06/2016,

cho đến nay hai bên không quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau nên đã vi phạm

nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng

trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt

được. Vì vậy, chị C yêu cầu được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại

khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nghĩ nên chấp nhận.

Về con chung: Chị C, anh T có một con chung là cháu Ngô Thị Như Y, sinh

ngày 24/7/2012 đang do chị C nuôi dưỡng. Xét thấy, từ khi vợ chồng ly thân cho

đến nay cháu Y đã sống chung với chị C, dưới sự chăm sóc, giáo dục của chị, cháu

đang sinh sống ổn định và phát triển bình thường, chị C có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu nên yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu của chị là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nghĩ nên tiếp tục giao cháu Y cho chị C nuôi dưỡng. Anh T được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không

xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có. [3] Về án phí: Yêu cầu ly hôn của chị C được chấp nhận nên chị phải chịu án phí dân sợ sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0016455 ngày 19/12/2017 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện PT, tỉnh An Giang.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4

Điều 147; khoản 1, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014;

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trương Thị Minh C được ly hôn

với anh Ngô Minh T.

2. Về con chung: Chị C được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ngô Thị Như Y, sinh

ngày 24/7/2012. Chị C không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Anh T được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cấm. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị C phải chịu án phí dân sợ sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là

300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã

nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0016455 ngày

19/12/2017 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện PT, tỉnh An Gian.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là

15 ngày kể từ ngày tuyên án, do các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên được tính

kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành

án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy tại điều 30 Luật thi hành

án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ