vanban.org

Bản án 72/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Mai N đƣợc ly hôn với anh Phan Văn K.

Về con chung: Giao cháu Phan Thị Mai P, sinh ngày 22/10/2008 cho chị Phạm Thị Mai N trực tiếp nuôi dƣỡng. Giao cháu Phan Minh Đ, sinh ngày 26/4/2014 cho anh Phan Văn K trực tiếp nuôi dƣỡng. Chị N và anh K không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chun… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Mai N - Phan Văn K"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Mai N đƣợc ly hôn với anh Phan Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 72/2017/HNGĐ-ST
Ngày 30-8-2017
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thị Thúy Lan.

Bà Nguyễn Hồng Gấm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 466/2017/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 97/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2017 giữa các đƣơng sự.

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Mai N, sinh năm 1985; thƣờng trú: Số 702/30, đƣờng V, khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Phan Văn K, sinh năm 1985, tạm trú: Số 702/30, đƣờng V, khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/6/2017 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phạm Thị Mai N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Mai N và anh Phan Văn K tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình vào ngày 29/3/2008 (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 86, quyển số 05). Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đƣợc 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh K thƣờng xuyên uống rƣợu, đánh bạc. Từ đầu năm 2017, hai bên đã sống ly thân. Trong cuộc sống hôn nhân của hai anh chị không có tiếng nói chung, vợ chồng không tôn trọng nhau nên vợ chồng thƣờng xuyên cãi vã và anh K đánh đập chị N. Nay chị N xác định hôn nhân của chị và anh K không còn hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên chị N yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Phan Văn K.

Về con chung: Chị N và anh K có 02 ngƣời con chung tên Phan Thị Mai P, sinh ngày 22/10/2008 và Phan Minh Đ, sinh ngày 26/4/2014. Theo đơn khởi kiện, chị N yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng hai ngƣời con chung và không yêu cầu anh K thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Ngày 12/7/2017 chị N nộp đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về con chung cụ thể: Chị N yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng ngƣời con chung tên Phan Thị Mai P, sinh ngày 22/10/2008, anh Phan Văn K trực tiếp nuôi dƣỡng ngƣời con chung tên Phan Minh Đ, sinh ngày 26/4/2014, không ai thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Phạm Thị Mai N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 12/7/2017 và lời khai trong quá trình tố tụng bị đơn anh Phan Văn K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh K thống nhất với lời trình bày của chị N về thời gian tìm hiểu và việc đăng ký kết hôn, về thời gian sống ly thân. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống và do vấn đề tài chính nên thƣờng xuyên cãi nhau. Vợ chồng anh, chị đã cố gắng thay đổi để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng không có kết quả. Tuy nhiên, vì thƣơng các con nên anh K không đồng ý ly hôn với chị N.

Về con chung: Trƣờng hợp giải quyết ly hôn thì anh K thống nhất với ý kiến của chị N về con chung và ngƣời nuôi con, không ai thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh K thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đƣơng sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc

xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về điều kiện thụ lý vụ án: Căn cứ theo đơn khởi kiện của chị Phạm Thị Mai N thì đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” đƣợc quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại Khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả đƣơng sự trên.

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Mai N và anh Phan Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình vào ngày 29/3/2008 thể hiện tại Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 86, quyển số 05 nên là hôn nhân hợp pháp. Chị N xác định sau nhiều năm chung sống, vợ chồng chị đã xảy ra những mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống; tính tình không hợp, thƣờng xuyên cải nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2017 đến nay. Vấn đề này đƣợc anh K thừa nhận nhƣng vì thƣơng các con nên anh K không chấp nhận ly hôn với chị N. Thực tế cuộc sống hôn nhân giữa chị N và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, vợ chồng không còn tình cảm và đã sống ly thân. Do đó, việc chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh K là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Vợ chồng chị N và anh K có 02 ngƣời con chung tên là Phan Thị Mai P, sinh ngày 22/10/2008 và Phan Minh Đ, sinh ngày 26/4/2014. Nguyên đơn yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung tên Phan Thị Mai P, anh Phan Văn K trực tiếp nuôi dƣỡng con chung tên Phan Minh Đ. Yêu cầu của nguyên đơn đƣợc bị đơn thống nhất, đồng thời cháu P cũng có nguyện vọng đƣợc sống với mẹ. Tuy nhiên, việc giải quyết giao con cho ai trực tiếp nuôi dƣỡng cần phải xem xét về mọi mặt để đảm bảo quyền lợi của con chƣa thành niên. Xét cháu P là bé gái, đang trong độ tuổi phát triển về tâm sinh lý nên cần giao cho chị N trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục cháu P; cháu Đ là bé trai nên cần giao anh K trực tiếp nuôi dƣỡng là phù hợp với điều kiện thực tế của hai bên và đảm bảo tiếp tục duy trì cuộc sống bình thƣờng về mọi mặt của các cháu theo quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Đồng thời chị N và anh K thống nhất không ai phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của hai bên nên Tòa án chấp nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đƣơng sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Mai N chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Mai N đƣợc ly hôn với anh Phan Văn K.

2. Về con chung: Giao cháu Phan Thị Mai P, sinh ngày 22/10/2008 cho chị Phạm Thị Mai N trực tiếp nuôi dƣỡng. Giao cháu Phan Minh Đ, sinh ngày 26/4/2014 cho anh Phan Văn K trực tiếp nuôi dƣỡng. Chị N và anh K không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai đƣợc cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Mai N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng án phí về ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Ngân đã nộp theo biên lai số 0009575 ngày 20/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

5. Nguyên đơn chị Phạm Thị Mai N và bị đơn anh Phan Văn K vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ