- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Lan H đối với anh Nguyễn Trường L. Chị H, anh L không còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2017/HNGĐ-ST Ngày: 19-12-2017 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Khanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Văn Tự.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Đào.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Châu, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Nhã - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện D xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 443/2017/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2017 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2017/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Lan H, sinh năm: 1994; địa chỉ cư trú: Tổ 4, ấp C, xã Q, huyện T, tỉnh Bình Phước; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trường L, sinh năm: 1989; địa chỉ cư trú: Nhà số 7, tổ 12, ấp B2, xã P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/7/2017 và quá trong giải quyết vụ án nguyên đơn chị Ngô Thị Lan H trình bày:
Chị và anh L tự nguyện chung sống với nhau năm 2011, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Sau khi cưới vợ chồng chung sống tại ấp C, xã Q, huyện T, tỉnh Bình Phước. Từ khi chị sinh con đầu
1
lòng vào tháng 9/2012 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do anh L thường xuyên uống rượu say có hành vi bạo lực đánh đập chị, không quan tâm, chăm sóc cho chị. Vợ chồng ly thân không còn quan tâm gì đến nhau, mạnh ai người đó sống từ tháng 7/2014 đến nay, khả năng vợ chồng đoàn tụ với nhau là rất khó nên chị yêu cầu ly hôn với anh L.
Về con chung: Có 01 người con chung tên là Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 06/9/2012, sống với anh L và gia đình anh L từ năm 2012 cho đến nay, chị yêu cầu giao con cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Trường L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vẫn cố tình vắng mặt nên không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Ngô Thị Lan H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Trường L tuy vắng mặt nhưng Tòa án đã tiến hành đúng và đầy đủ thủ tục để bảo đảm cho việc xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị H và anh L tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Minh, Huyện D, tỉnh Tây Ninh ngày 06 tháng 5 năm 2014 nên được công nhận đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị H cho rằng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do anh L có hành vi bạo lực đánh đập chị, không quan tâm, chăm sóc cho chị, vợ chồng ly thân từ tháng 7/2014 cho đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng cũng không gặp nhau để bàn về việc đề đoàn tụ gia đình.
Xét thấy thời gian vợ chồng ly thân đã lâu, tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh L là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị H và anh L có 01 người con chung tên là Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 06/9/2012, sống với anh L và gia đình anh L từ năm 2012 cho đến nay, chị H không có tranh chấp về con chung, yêu cầu giao con cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy thời gian vợ chồng ly thân 5 năm con chung ở cùng với anh L, do đó để đảm bảo ổn định tốt cần giao con tên Lan Anh cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, chị H được quyền thăm nom con chung, việc cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H khai không có nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Lan H đối với anh Nguyễn Trường L. Chị H, anh L không còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng.
2. Về con chung: Anh L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 06/9/2012. Chị H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Ngô Thị Lan H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0015845 ngày 22-3-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện D, tỉnh Tây Ninh; chị Hoa đã nộp đủ án phí.
5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi đương sự cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND Huyện D; - Chi cục THADS Huyện D; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Đương sự; - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ T A PHI N TÒA V Văn Khanh |