vanban.org

Bản án 72/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Thị Phương D về việc “ Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng vay tài sản” với ông Mai Duy C.

Buộc ông Mai Duy C trả cho bà Trần Thị Phương D số tiền 310.000.000 đồng (Ba trăm mười triệu đồng). Về án phí dân sự sơ thẩm 15.500.000 đồng (mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng) ông C phải nộp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần Thị Phương D và Mai Duy C tranh chấp nghĩa vụ trả nợ"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Thị Phương D về việc “ Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng vay tài sản” với ông Mai Duy C.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NÚI THÀNH
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2017/DS-ST
Ngày: 20/9/2017
V/v: “Tranh chấp nghĩa vụ
thanh toán trong
hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:(6)

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thanh Thủy.

2. Bà Nguyễn Thị Xuân.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Núi Thành.

Hôm nay, ngày 20 tháng 9 năm 2017, tại Phòng xét xử Toà án nhân dân huyện Núi Thành tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 63/2017/TLST-DS ngày 09/8/2017 về “Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng vay tài sản ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2017/QĐXXST - DS ngày 29 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Phương D, sinh năm: 1966, trú tại: 61 đường T, phường T, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Mai Duy C, sinh năm: 1985, trú tại: Thôn P, xã N, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Mai Thị D1, trú tại: Thôn P, xã N, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/7/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà D trình bày: Ngày 13/8/2015 tôi có cho ông C mượn số tiền 310.000.000 đồng, tôi chỉ cho mượn tạm không tính lãi và ông C có viết cho tôi 01 giấy mượn tiền. Tuy nhiên sau khi mượn, tôi nhiều lần yêu cầu ông C trả cho tôi số tiền này nhưng ông C chây ì không chịu trả. Do vậy, tôi làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông C phải trả cho tôi số tiền 310.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn ông C trình bày: Tôi có nhận trả nợ thay chị gái là Mai Thị D1 với số tiền 310.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 13/8/2015 DL như bà D trình bày. Tuy nhiên đây là số tiền chị gái tôi nợ bà D chứ bản thân tôi không nợ nhưng vì bà D thường xuyên gây sức ép nên tôi mới viết giấy trả nợ thay. Tại phiên tòa hôm nay tôi đồng ý trả nợ cho bà D nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị cho tôi trả dần theo khả năng kinh tế của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Ngày 13/8/2015 ông C có viết giấy nhận nợ của bà D số tiền 310.000.000 đồng được các bên thừa nhận. Đây là tình tiết không cần phải chứng minh.

Bà D nhiều lần yêu cầu nhưng ông C không trả nợ là vi phạm quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Do vậy viêc bà D khởi kiện yêu cầu ông C trả toàn bộ số tiền nợ 310.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, ông C khai nại rằng ông nhận trả nợ thay cho chị gái là Mai Thị D1, yêu cầu triệu tập bà D1 tham gia tố tụng để giải quyết; tuy nhiên ông C không xuất trình chứng cứ chứng minh bà D1 có nợ bà Dung và ông nhận trả thay, hơn nữa Tòa án triệu tập bà D1 ông C cam đoan giao ngay tận tay nhưng bà D1 không đến Tòa; mặc khác ông C cho rằng bà D ép buộc ông viết giấy nợ nhưng bản thân ông là người minh mẫn, tinh thần và thể chất ổn định, không có chứng cứ chứng minh ông bị ép buộc viết giấy nợ; bà D cũng không thừa nhận lời khai nại của ông C, chỉ yêu cầu ông C trả khoản nợ 310.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 13/8/2015DL mà không yêu cầu bà D1 chị ông C trả nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét lời khai nại của ông C.

Tại phiên tòa, ông C đồng ý trả nợ cho bà D nhưng đề nghị bà D cho ông trả dần hằng tháng theo khả năng kinh tế của mình, bà D không đồng ý với đề nghị của ông C nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông C phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án ngày 30/12/2016.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Thị Phương D về việc “ Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng vay tài sản” với ông Mai Duy C.

Buộc ông Mai Duy C trả cho bà Trần Thị Phương D số tiền 310.000.000 đồng (Ba trăm mười triệu đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm 15.500.000 đồng (mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng) ông C phải nộp.

Hoàn lại cho cho bà Trần Thị Phương D số tiền tạm ứng án phí 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) theo biên lai thu số 0001536 ngày 09/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự biết, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật để xin Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Nam;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện Núi Thành;

(đã ký)

- THA huyện Núi Thành;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Trần Thị Sơn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Nam;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện Núi Thành;

- THA huyện Núi Thành;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Bùi Đình Dũng

Cỡ chữ