vanban.org

Bản án 719/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Q được ly hôn với ông T. Về con chung: Bà Q xác định không có con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Q- ông T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 719/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 13-7-2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Thế Đông

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Sao

Ông Nguyễn Văn Tiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Thành – Thư ký Tòa án nhân dân

quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thịnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1119/2017/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Q; địa chỉ: Đường M, phường N, Quận O, Thành phố Hồ

Chí Minh.

- Bị đơn: Ông T; địa chỉ: Đường P, phường Q, quận Tân Phú, Thành phố

Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn

bà Q trình bày: Bà và ông T tự nguyện chung sống, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 08/9/2011. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng từ năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống khác nhau, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên cãi vả. Khoảng tháng 9/2017, nhận thấy cuộc sống chung không thể kéo dài nên bà về sinh sống tại nhà mẹ tại địa chỉ phường N, Quận O; vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Vì nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông T để ổn định cuộc sống. Về con chung: Bà và ông T không có con chung. Về tài sản chung: Bà xác định vợ chồng không có tài sản chung hay nợ chung. Do đó, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông T đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được vì ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần liên tiếp mà vẫn cố tình vắng mặt. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Ngày 31/5/2018, bà Q có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền: Bà Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T; theo kết quả xác minh ngày 26/3/2018 của Công an phường Q, quận Tân Phú thì có cơ sở xác định bị đơn là ông T đang cư trú tại quận Tân Phú. Xét đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về thủ tục: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, ông T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, bà Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự và Giấy chứng nhận kết hôn Số 119, Quyển số 01/2011 đăng ký ngày 08/9/2011, tại Ủy ban nhân dân phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông T là hợp pháp. [4] Xét yêu cầu ly hôn: Căn cứ vào lời khai của bà Q, Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng Q và ông T phát sinh mâu thuẫn đã lâu nhưng không thể hàn gắn được; giữa hai người có sự khác nhau về quan điểm sống dẫn đến việc không tìm thấy tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Mặt khác, theo kết quả xác minh mâu thuẫn gia đình của Hội liên hiệp Phụ nữ phường Q, quận Tân Phú tại Công văn số 152/TA-Q.TP ngày 26/3/2018 thì ông T và bà Q hiện không còn chung sống với nhau. Căn cứ vào lời khai của bà Q và kết quả xác minh mâu thuẫn gia đình thì đủ cơ sở kết luận bà Q và ông T đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay, giữa hai người đã không còn đời sống vợ chồng, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn yêu thương, chăm sóc, quan tâm lẫn nhau. Bị đơn là ông T vắng mặt khi được triệu tập làm việc, hòa giải tại Tòa án, cũng như tại phiên tòa. Qua đó, Hội đồng xét xử nhận thấy ông T thể hiện thái độ bỏ mặc kết quả giải quyết của Tòa án, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ những lý do vừa nêu, xét thấy tình trạng hôn nhân của bà Q và ông T đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Q theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà Q xác định không có con chung, không yêu cầu nên

Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về tài sản: Bà Q xác định không có tài sản chung hay nợ chung, không

yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng do nguyên

đơn là bà Q chịu.

Các kiến nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung

vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điều 36, Điểm a Khoản 1

Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227 và Điều 228, 235, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Q được ly hôn với ông T.

2. Về con chung: Bà Q xác định không có con chung.

3. Về tài sản chung: Bà Q xác định không có tài sản chung hay nợ chung,

không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng do bà

Q chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010154 ngày 16/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Q đã nộp đủ án phí.

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Bà Q, ông T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ