vanban.org

Bản án 714/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/05/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Lê Thu T được ly hôn ông Li Yi-S.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thu T phải chịu 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0091657 ngày 01 tháng 6 năm 2020 của Cục Thi hành á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Lê Thu T được ly hôn ông Li Yi-S.
  • Căn cứ chính? Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 714/2021/HNGĐ-ST
Ngày 17-5-2021
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai;

2. Bà Lê Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Thanh Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Thanh Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 170/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 1427/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm số 4465/2021/QĐ-ST ngày 21 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thu T (vắng mặt).

Địa chỉ: Tỉnh lộ X, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Li Yi-S (vắng mặt).

Địa chỉ: Đài Loan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 20 tháng 5 năm 2020 và lời khai của nguyên đơn – bà Lê Thu T thì:

Bà và ông Li Yi-S tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 97 ngày 17/12/2019. Ngày 01/01/2020, ông Li Yi-S về Đài Loan sinh sống cho đến nay, không quay lại Việt Nam. Từ khi ông Li Yi-S về Đài Loan, giữa Bà và ông Li Yi-S phát sinh mâu thuẫn do ông Li Yi-S yêu cầu sau khi đến Đài Loan chung sống với Ông, Bà phải cắt đứt liên hệ với người thân của Bà ở Việt Nam nhưng Bà không đồng ý. Do bất đồng ngôn ngữ, tính cách, quan điểm sống nên vợ chồng không thể hòa giải, hàn gắn. Bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên Bà khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Li Yi-S. Bà và ông Li Yi-S không có con chung, không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi con, tài sản chung, nợ chung. Bà đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt Bà.

Tòa án đã ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Đài Loan, nơi bị đơn – ông Li Yi-S cư trú, để tống đạt thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa cho ông Li Yi-S, yêu cầu ông Li Yi-S trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà Lê Thu T và nhận được Thông báo của cơ quan có thẩm quyền của Đài Loan về việc đã tống đạt Thông báo cho ông Li Yi-S. Tuy nhiên, bị đơn – ông Li Yi-S không có văn bản trả lời và vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Khoản 2, Điều 37; Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa Gia đình và Người chưa thành niên – Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền.

Về nội dung: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 97 ngày 17/12/2019 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố H cấp thì quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thu T và ông Li Yi-S là hợp pháp. Xét thấy, giữa bà Lê Thu T và ông Li Yi-S không còn tình cảm vợ chồng, không có hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được; cả hai sống ở hai nước khác nhau nên không có cơ hội hàn gắn. Tòa án đã ủy thác tư pháp để tống đạt thông báo thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa cho ông Li Yi-S theo quy định pháp luật. Do đó, việc bà T xin ly hôn là có căn cứ, tự nguyện, không trái quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên có cơ sở chấp nhận. Căn cứ Khoản 1, Điều 51; Điều 53; Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thu T; về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về án phí: Bà T phải chịu theo quy định pháp luật là 300.000 đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Lê Thu T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Li Yi-S đang cư trú tại Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên – Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1, Điều 28; Điều 35; Điều 37; Điểm a, Khoản 2, Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bà Lê Thu T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông Li Yi-S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng nên căn cứ Khoản 2, Điều 227; Điều 228; Điểm b, Khoản 5, Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Lê Thu T và ông Li Yi-S.

Về hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 97 ngày 17/12/2019 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố H cấp thì quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thu T và ông Li Yi-S là hợp pháp. Từ ngày 01/01/2020 đến nay, vợ chồng bà Lê Thu T và ông Li Yi-S không chung sống; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ Khoản 1, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu ly hôn của bà Lê Thu T có căn cứ để chấp nhận.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thu T trình bày Bà và ông Li Yi-S không có con chung, tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điểm a, Khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì do bà Lê Thu T khởi kiện yêu cầu ly hôn nên bà Lê Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1, Điều 28; Điều 35; Điều 37; Khoản 2, Điều 38; Khoản 4, Điều 147; Khoản 1, Điều 273 và Khoản 1, Khoản 2, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 19; Khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điểm a, Khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về hôn nhân: Bà Lê Thu T được ly hôn ông Li Yi-S.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thu T phải chịu 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0091657 ngày 01 tháng 6 năm 2020 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thu T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại của Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày đối với bà Lê Thu T và 01 (một) tháng đối với ông Li Yi-S kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ cho họ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ