vanban.org

Bản án 713/2021/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 24/12/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2021/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên về phần hình phạt chính đối với bị cáo Bùi Như H:

Các quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt bổ sung bị cáo Bùi Như H 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sung quỹ nhà nước, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Án phí hình… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Như H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2021/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên về phần hình phạt chính đối với bị cáo Bùi Như H:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 713/2021/HSPT
Ngày 24 tháng 12 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Xuân Điền

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Hải Thanh

Bà Nguyễn Phương Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Lê Giang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thành, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 24 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 797/2021/TLPT-HS ngày 20 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo Bùi Như H, do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2021/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Bị cáo bị kháng nghị: Bùi Như H sinh ngày 15/4/1992 tại Điện Biên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn B, xã A, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Th và bà Vũ Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/3/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Như H (theo yêu cầu của Tòa án): Ông Nguyễn Văn T, Luật sư của Văn phòng Luật sư AT thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Thái Nguyên (có mặt).

Người làm chứng: Anh Lùng Văn Q, sinh năm 1999, trú tại: Bản Q, xã Q, huyện M, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).

Người chứng kiến: (1) Ông Trần Mạnh V, sinh năm 1969 và (2) Ông Nguyễn Khắc S, sinh năm 1966; đều trú tại: Tổ X, phường L, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 09/3/2021, tại phòng 304 nhà nghỉ TĐ (thuộc Tổ 8, phường Tân Long, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên bắt quả tang Bùi Như H đang có hành vi tàng trữ trái phép: 03 bánh hình hộp chữ nhật có kích thước (10 x 15 x 2,5) cm, được niêm phong ký hiệu Q1, theo H khai đó là Heroine; 02 túi nilon màu xanh, bên trong chứa 385 viên nén màu hồng nghi là “hồng phiến”, được niêm phong ký hiệu Q2. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo vỏ màu xanh hồng có gắn sim số thuê bao 0396.334.998, số imei 860143040789791; 01 điện thoại di động hiệu Point vỏ màu xanh có sim số thuê bao 0377.240.176, số imei 861903060024133; 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Bùi Như H và số tiền 350.000 đồng. Cơ quan điều tra đã niêm phong thu giữ vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 577/KL-GĐ ngày 17/3/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đã kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Bùi Như H là ma túy loại Heroine có khối lượng là 1.051,75 gam; số viên nén màu hồng thu giữ là ma túy loại Methaphetamine có khối lượng là 36,76 gam.

Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội của Bùi Như H như sau:

Do có ý định mua ma túy để bán kiếm lời với người tên là H1 (ở Thái Nguyên, không rõ nhân thân), Bùi Như H đã liên hệ và gặp người phụ nữ tên D (người Trung Quốc) tại bến xe khách tỉnh Điện Biên do H quen D tại cửa khẩu Tân Thanh, tỉnh Lạng Sơn. H thỏa thuận mua chịu của D 03 bánh Heroine và 02 túi ma túy tổng hợp hồng phiến với giá 537.000.000 đồng, khi nào bán được ma túy sẽ trả tiền sau; D cho H số điện thoại 0376.014.128 của người tên C để liên hệ.

Ngày 08/3/2021, Bùi Như H gọi điện thoại cho C để nhận ma túy thì C thông báo cứ đi Thái Nguyên trước, còn ma túy sẽ gửi sau. Khoảng 08 giờ ngày 09/3/2021, H đến bến xe ô tô khách Thái Nguyên để nhận gói hàng là 01 hộp cát tông, bên ngoài dán băng dính màu đen có ghi số điện thoại 0377.240.176 của H là người nhận từ anh Lùng Văn Q (là phụ xe ô tô khách của nhà xe XL có biển kiểm soát 27B-003.59). Gói hàng trên do anh Q nhận của một người gửi từ Điện Biên gửi đi Thái Nguyên với giá cước 50.000 đồng. Sau khi nhận gói hàng trên, H thuê xe ô tô taxi đi về nhà nghỉ TĐ. Trên đường đi, H đã mở gói hàng thấy bên trong có 03 bánh Heroine và 02 túi nilon đựng ma túy tổng hợp hồng phiến; H lấy số ma túy trên cho vào ba lô cá nhân rồi vứt chiếc hộp trên đường đi. Khi đến nhà nghỉ TĐ, H thuê phòng số 304 đợi H1 đến để bán ma túy nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2021/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2021, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Bùi Như H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Như H tù chung thân; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/3/2021. Phạt bổ sung Bùi Như H 20.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm và phổ biến quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Kháng nghị:

Ngày 25/8/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên ban hành Quyết định số 01/QĐ-VKSTN-P1 về việc kháng nghị phúc thẩm một phần Bản án sơ thẩm về phần hình phạt chính đối với bị cáo Bùi Như H, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng hình phạt tử hình đối với bị cáo Bùi Như H.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm, các Thẩm phán thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Bị cáo Bùi Như H đã có hành vi mua bán trái phép 03 bánh Heroine có tổng khối lượng là 1.051,75 gam và 385 viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 36,76 gam, tổng khối lượng 02 chất ma túy là 1.088,51 gam. Hai chất ma túy do bị cáo H mua bán nêu trên đều được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự, với khối lượng đặc biệt lớn. Theo quy định pháp luật thì người nào thực hiện hành vi mua bán 600 gam ma túy loại trên đã xử phạt tử hình nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo tù chung thân là không phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả do tội phạm mà bị cáo đã gây ra; không đảm bảo tính nghiêm minh, giáo dục, phòng ngừa tội phạm và không đúng quy định pháp luật. Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt như trên là không đúng hướng dẫn tại điểm c tiểu mục 3.1, điểm a tiểu mục 3.2 và điểm c tiểu mục 3.3 mục 3 Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên về phần hình phạt chính đối với bị cáo Bùi Như H là có căn cứ; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng hình phạt tử hình đối với bị cáo Bùi Như H.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Bùi Như H phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đặc điểm nhân thân, hoàn cảnh dẫn đến việc bị cáo phạm tội; toàn bộ số ma túy được thu giữ kịp thời, chưa phát tán ra ngoài xã hội nên phần nào đã hạn chế được tác hại của nó; trong thời gian bị giam giữ, bị cáo chấp hành tốt nội quy, quy định của trại giam; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, rất ân hận với việc làm của mình, được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Vũ Thị L là mẹ đẻ của bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, kèm theo là một Huân chương kháng chiến hạng 3 của Chủ tịch nước tặng thưởng cho ông nội của bị cáo đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Với sự khoan hồng của pháp luật và chính sách của Đảng, của Nhà nước đối với người nhầm đường lạc lối, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức án tù chung thân mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo Bùi Như H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Như H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm trước đây; phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định số ma túy thu giữ được của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Sau khi gặp người có nhu cầu mua ma túy (bị cáo khai người này tên là H1, ở Thái Nguyên nhưng không biết rõ nhân thân, địa chỉ), Bùi Như H đã liên hệ và đến Điện Biên gặp một người phụ nữ có tên là D thỏa thuận mua chịu 03 bánh Heroine, 02 túi ma túy tổng hợp để bán lại cho H1 nhằm kiếm lợi nhuận. Khoảng 08 giờ ngày 09/3/2021, H nhận được số ma túy nêu trên; sau đó, H mang về Nhà nghỉ TĐ (thuộc Tổ 8, phường Tân Long, thành phố Thái Nguyên) thuê Phòng 304 đợi H1 đến để bán thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy. Tại bản Kết luận giám định số 577/KL-GĐ ngày 17/3/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Bùi Như H là ma túy loại Heroine có khối lượng là 1.051,75 gam; số viên nén màu hồng thu giữ là ma túy loại Methaphetamine có khối lượng là 36,76 gam.

Với hành vi nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2021/HS-ST ngày 12/8/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Thái nguyên đã tuyên bố Bùi Như H phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng... của các chất đó tương đương với khối lượng... chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên về phần hình phạt chính đối với bị cáo Bùi Như H thì thấy:

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng tội danh và khung hình phạt; đã xem xét bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đồng thời, đã xem xét đặc điểm nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ ly hôn, tuổi đời còn trẻ, chưa có vợ con là có căn cứ và đúng với thực tế.

Tuy vậy, bị cáo Bùi Như H đã thực hiện hành vi mua bán trái phép 02 chất ma túy với tổng khối lượng là 1.088,51 gam (trong đó, 03 bánh Heroine có tổng khối lượng 1.051,75 gam và 385 viên nén ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 36,76 gam), là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn được quy định tại khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt chính là phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Tòa án cấp sơ thẩm quyết định xử phạt bị cáo tù chung thân là chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội từ hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng của bị cáo, chưa phù hợp với quy định của pháp luật, chưa đảm bảo tính nghiêm minh đối với người phạm tội, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và yêu cầu đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên về phần hình phạt chính đối với bị cáo Bùi Như H là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận để sửa bản án sơ thẩm cho đúng pháp luật.

Đối với đơn xin trình bày hoàn cảnh của bà Vũ Thị L và ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy: Phần lớn các nội dung trình bày của bà L và của Luật sư đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét; có một số nội dung là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận áp dụng cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy vậy, theo những kết quả phân tích trên đây thì với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử không có đủ cơ sở để chấp nhận ý kiến của bà L xin giảm mức hình phạt cho bị cáo, cũng như ý kiến của Luật sư bào chữa đề nghị giữ nguyên mức hình phạt tù chung thân đối với bị cáo.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

1. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2021/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên về phần hình phạt chính đối với bị cáo Bùi Như H:

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Như H tử hình về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án.

2. Các quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt bổ sung bị cáo Bùi Như H 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sung quỹ nhà nước, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Bùi Như H không phải chịu.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 24 tháng 12 năm 2021).

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm, bị cáo Bùi Như H có quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xin ân giảm án tử hình.

Cỡ chữ