- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện yêu cầu hủy Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả tro…"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của bà Nguyễn Thị B. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 24/2020/HC-ST ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP Về xử phạt vi phạm hành chính tr…; Điều 115 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 710/2022/HC-PT Ngày 31 – 8 – 2022 V/v: “Khiếu kiện yêu cầu hủy Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Long
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Thanh Duyên
Ông Vũ Ngọc Huynh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Duy Minh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Đoạn - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 742/2020/TLPT-HC ngày 14 tháng 02 năm 2020 về việc “Khiếu kiện yêu cầu hủy Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 24/2020/HC-ST ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1537/2022/QĐ-PT ngày 03 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1936 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ 46, ấp 4, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1975 và bà Trương Thị Thu N, sinh năm 1982;
Cùng địa chỉ: Số 226/72, tổ 46, ấp 4, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn T – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Hoàng Mạnh H – Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1964;
2. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1966;
3. Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1968;
4. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1975;
5. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1978;
Cùng địa chỉ: Ấp 4, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Q, bà N1, ông G, ông B, bà T1: Bà Trương Thị Thu N, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số 226/72, tổ 46, ấp 4, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
6. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Khu phố 3, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ: Bà Trương Thị Thu N, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số 226/72, tổ 46, ấp 4, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
7. Công ty cổ phần S.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Anh Tuấn – Chức vụ: Tổng giám đốc (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Khu công nghiệp L, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị B (người khởi kiện).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bà Nguyễn Thị B – ông Phạm Văn Thọ trình bày:
Nguồn gốc đất: Diện tích đất 2.362,3m2 trong đó có 300m2 đất thổ cư thuộc thửa đất số 335, 345 tờ bản đồ 03, xã T có diện tích 6.996m2, do gia đình bà khai phá từ năm 1976, sử dụng liên tục đến thời điểm có Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017 về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, là không tranh chấp. Trên diện tích đất trên có 01 căn nhà ở cấp 4 diện tích 50m2, nhà chăn nuôi trâu bò diện tích 31,35m2 và đất trồng cây lâu năm.
Ngày 29 tháng 12 năm 2017, bà nhận được Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
Tại Quyết định nêu trên thể hiện: Bà B phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả do đã có hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Hậu quả do hành vi hành chính gây ra cần khắc phục là bà Nguyễn Thị B đã có đã có hành vi dựng 01 (một) chòi tạm mái tôn, cột gỗ và trồng tràm 01 năm tuổi với diện tích 2.362,3m2 để chiếm thửa đất ở tại thửa đất cắt thửa 283, 284, 285,286, 291, 292, 293 cắt từ thửa 287, cắt từ thửa 290 tờ bản đồ số 27, ấp 5, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai do Công ty cổ phần S quản lý, sử dụng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 601883, BG 601884, BG 601886, BG 601887, BG 601891 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 22/9/2011; Ông Nguyễn Quốc Tú theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 601890 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 22/9/2011; Bà Mai Thị Mong theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 601892 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 22/9/2011; Bà Đặng Thị Thanh Tuyền theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 601 893 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 22/9/2011. Từ đó, buộc bà B phải di dời toàn bộ công trình chòi tạm, cây tràm đã trồng để khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm, trả lại đất đất đã chiếm quy định tại điểm a, b khoản 5 Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Quyết định số: 5418/QĐ-KPHQ ngày 22 tháng 11 năm 2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L không đúng quy định của pháp luật vì Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L cho rằng gia đình bà lấn chiếm đất nhưng không lập biên bản xử phạt, đã hết thời hạn ra quyết định xử phạt, đất không tranh chấp nhưng lại áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là trái quy định, không có quyết định thu hồi đất, không có quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thông báo nhận tiền.
Sau khi nhận được tài liệu, chứng cứ do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L cung cấp, ông bà khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án tuyên hủy Quyết định số: 5978/QĐ-CCXP ngày 18 tháng 12 năm 2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp cưỡng chế khắc phục hậu quả.
Tại nội dung của Quyết định hành chính nêu trên thể hiện: Bà Nguyễn Thị B đã có hành vi dựng 01 (một) chòi tạm mái tôn, cột gỗ và trồng tràm 01 năm tuổi với diện tích 2.362,30m2 để chiếm thửa đất ở tại thửa đất cắt thửa 283, 284, 285,286, 291, 292, 293 cắt từ thửa 287, cắt từ thửa 290 tờ bản đồ số 27, ấp 5, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai do Công ty cổ phần S quản lý, sử dụng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 601883, BG 601884, BG 601886, BG 601887, BG 601891 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 22/9/2011; Ông Nguyễn Quốc Tú theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 601890 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 22/9/2011; Bà Mai Thị Mong theo Giấy chứng nhận quyền sủ dụng đất số BG 601892 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 22/9/2011; Bà Đặng Thị Thanh Tuyền theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 601 893 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 22/9/2011. Từ đó, buộc bà B phải di dời toàn bộ công trình chòi tạm, cây tràm đã trồng, khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm, trả lại đất lấn, chiếm.
Ông bà không đồng ý với các Quyết định hành chính nêu trên của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L. Vì diện tích đất 2.362,30m2 thuộc thửa 335, 345 tờ bản đồ số 03 diện tích 6996m2. Đất do gia đình bà khai phá từ năm 1976, sử dụng liên tục đến thời điểm có Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017. Mặt khác, gia đình bà không có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Quốc Tú, không chuyển nhượng cho bà Mai Thị Mong, không chuyển nhượng cho bà Đặng Thị Kim Tuyền. Cũng không có quy hoạch của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với diện tích nói trên để giao cho Công ty Cổ phần S, giao cho ông Nguyễn Quốc Tú, giao cho bà Mai Thị Mong, giao cho bà Đặng Thị Thanh Tuyền. Không có quyết định thu hồi diện tích 2.362,30m2 thuộc thửa 335, 345 tờ bản đồ số 03 xã T của gia đình bà để giao cho Công ty Cổ phần S, ông Nguyễn Quốc Tú, bà Mai Thị Mong, bà Đặng Thị Thanh Tuyền. Và họ cũng không khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với bà về hành vi chiếm đất của họ. Đến thời điểm khởi kiện, ông bà vẫn chưa nhận được quyết định thu hồi đất , không nhận được thông báo thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Vì vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L ban hành các quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với diện tích đất của gia đình bà là trái quy định của pháp luật. Đồng thời, Quyết định số: 5418/QĐ-KPHQ ngày 22 tháng 11 năm 2017 và Quyết định số 5978/QĐ-CCXP ngày 18 tháng 12 năm 2017 đã vi phạm Điều 12 của Luật đất đai năm 2013.
Do đó, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Quyết định số: 5418/ QĐ-KPHQ ngày 22 tháng 11 năm 2017 và Quyết định số 5978/QĐ-CCXP ngày 18 tháng 12 năm 2017 cùng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L.
* Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Nguyễn Văn B thống nhất với phần trình bày của ông Thọ.
* Tại bản giải trình ngày 18/5/2018 người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện ông Nguyễn Hoàng Nghĩa trình bày:
Ngày 25 tháng 12 năm 2013, Công ty Cổ phần S có Văn bản số 589/SZL-KDTT về việc xây dựng hàng rào khu công nghiệp Long Thành và khu dân cư Tam An 1, tại xã T, gửi UBND huyện L, Công an huyện L, UBND xã T.
Ngày 23 tháng 06 năm 2014, Công ty Cổ phần S có Văn bản số 304/SZL-KDTT về việc các vướng mắc tồn đọng tại dự án KCN Long Thành, khu dân cư Tam An 1 và khu tái định cư Tam An gửi UBND huyện L, UBND xã T.
Ngày 22 tháng 3 năm 2016, Công ty Cổ phần S có Văn bản số 145/SZL-KDTT về việc đóng góp ý kiến dự thảo đề xuất xử lý các khó khăn vướng mắc còn tồn tại của dự án KCN Long Thành, KDC Tam An và Khu tái định cư Tam An tại xã T gửi UBND huyện L.
Ngày 09 tháng 08 năm 2016, Công ty Cổ phần S có Văn bản số 507B/SZL-KDTT, về việc các trường hợp tái lấn chiếm, vướng mắc, trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tại các dự án Khu dân cư Tam An và Khu tái định cư Tam An, gửi UBND tỉnh Đồng Nai. .
Ngày 11 tháng 10 năm 2016, Công ty Cổ phần S có Văn bản số 640/SZL-KDTT, về việc tình hình tái lấn chiếm tại dự án Khu dân cư Tam An 1, xã T, huyện L gửi UBND huyện L, UBND xã T.
Ngày 13 tháng 07 năm 2017, Tổ Công tác theo Quyết định số 2019/QĐ-UBND của huyện L tiến hành kiểm tra và lập biên bản hiện trạng sử dụng đất lấn, chiếm tại Khu dân cư Tam An 1, xã T đối với bà Nguyễn Thị B.
Ngày 21 tháng 8 năm 2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường có Giấy mời số 262/GM-TNMT mời bà Nguyễn Thị B làm việc liên quan đến việc sử dụng đất tại dự án Khu dân cư Tam An 1, Xã T.
Ngày 28 tháng 8 năm 2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường phối hợp UBND xã T lập biên bản làm việc và Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 28/BB-VPHC đối với bà Nguyễn Thị B, vì bà B đã có hành vi vi phạm hành chính, chiếm đất ở, quy định tại Khoản 3 Điều 10 của Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ, về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Bà Nguyễn Thị B có mặt nhưng không đồng ý nội dung vi phạm và không ký tên vào biên bản.
Ngày 29 tháng 8 năm 2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường phối hợp UBND xã T lập Biên bản niêm yết công khai Biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai số 28/BB-VPHC đối với bà Nguyễn Thị B tại trụ sở UBND xã T và trụ sở ấp 5, xã T.
Ngày 30 tháng 8 năm 2017, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh Long Thành thiết lập Bản đồ hiện trạng thửa đất số 10760/2017, thể hiện vị trí và diện tích chiếm đất của bà Nguyễn Thị B tại thửa đất số 283, 284, 285, 286,291, 292, 293; cắt thửa 287; cắt thửa 290; tờ bản đồ số 27, xã T.
Ngày 20 tháng 11 năm 2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường có Tờ trình số 1986/TTr-TNMT về việc ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai đối với bà Nguyễn Thị B, do đã hết thời hạn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Ngày 22 tháng 11 năm 2017, Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Nguyễn Thị B. Theo đó, buộc bà B phải khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm và trả lại đất đã chiếm.
Ngày 23 tháng 11 năm 2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường phối hợp UBND xã T giao Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ cho bà Nguyễn Thị B để thực hiện, nhưng bà B không nhận do đó Đoàn làm việc lập Biên bản số 04/BB-KNQĐ, về việc không nhận quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
Ngày 24 tháng 11 năm 2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường phối hợp UBND xã T lập Biên bản niêm yết công khai Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ, tại trụ sở UBND xã T và trụ sở ấp 5, xã T.
Ngày 06 tháng 12 năm 2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường phối hợp UBND xã T lập Biên bản kiểm tra việc thực hiện Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Nguyễn Thị B. Theo đó, qua kiểm tra thực tế ghi nhận bà Nguyễn Thị B chưa thực hiện khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm và chưa trả lại đất đã chiếm theo nội dung Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ ngày 22 tháng 11 năm 2017.
Ngày 11 tháng 12 năm 2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường có Tờ trình số 2202/TTr-TNMT về việc ban hành Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai đối với bà Nguyễn Thị B.
Ngày 18 tháng 12 năm 2017, Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 5978/QĐ-CCXP cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Nguyễn Thị B.
Ngày 26 tháng 12 năm 2017, Đoàn Cưỡng chế theo Quyết định số 6223/QĐUBND của UBDN huyện phối hợp UBND xã T giao Quyết định số 5978/QĐ-CCXP cho bà Nguyễn Thị B để thực hiện nhưng bà B không nhận, do đó, Đoàn cưỡng chế lập biên bản về việc không nhận quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Ngày 28 tháng 12 năm 2017, Đoàn Cưỡng chế theo Quyết định số 6223/QĐ-UBND của UBND huyện phối hợp UBND xã T lập Biên bản niêm yết công khai Quyết định số 5978/QĐ-CCXP tại trụ sở UBND xã T và trụ sở ấp 5, xã T.
Qua kết quả kiểm tra, rà soát hồ sơ nêu trên nhận thấy: việc Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ ngày 22 tháng 11 năm 2017 và Quyết định số 5978/QĐ-CCXP đối với bà Nguyễn Thị B là đảm bảo trình tự thủ tục theo quy định tại Điều 28, 65, 85, 86, 87 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 10 của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Điều 33 của Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Vì vậy, người bị kiện không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện; người bị kiện vẫn giữ nguyên quyết định hành chính bị kiện.
* Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị N1, ông Nguyễn Văn G, ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị Đ – bà Trương Thị Thu N trình bày: thống nhất với ý kiến của ông Phạm Văn Thọ.
* Tại văn bản số 817/SZL-KDTT ngày 14/9/2020 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần S trình bày: Đây là vụ kiện hành chính, người bị kiện là Chủ tịch UBND huyện L do đó Công ty S không có ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 24/2020/HC-ST ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, quyết định:
Căn cứ Điều 3, khoản 1 Điều 30, Điều 31, Điều 32, Điều 115, Điều 116, Điều 157, Điều 158, Điều 193, Điều 206 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Áp dụng Điều 6, 28, 58, 65, 66, 85, 86, 87 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 10, Điều 31, Điều 34 của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Điều 33 của Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ, quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tính án phí;
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B về việc yêu cầu hủy các QĐHC của Chủ tịch UBND huyện L gồm:
+ Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
+ Quyết định số 5978/QĐ-CCXP ngày 18/12/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 28/9/2020, người khởi kiện bà Nguyễn Thị B kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị B về việc yêu cầu hủy các QĐHC của Chủ tịch UBND huyện L.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện là bà Nguyễn Thị B vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị sửa bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai hủy Quyết định 5418/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017 và 5978/QĐ-CCXP ngày 18/12/2017 của Chủ tịch UBND huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện tranh luận:
Diện tích đất 2.362,3m2 trong đó có 300m2 đất thổ cư thuộc thửa đất số 335, 345 tờ bản đồ 03, xã T có diện tích 6.996m2, do gia đình bà khai phá từ năm 1976, sử dụng liên tục đến thời điểm có Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017 về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và không tranh chấp, không chuyển nhượng cho ai.
Quyết định 5919/QĐ-UBND ngày 09/06/2006 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc thu hồi đất giao cho UBND huyện L, trong đó có yêu cầu UBND huyện ban hành Quyết định thu hồi đối với từng hộ dân nhưng đến nay chưa ban hành Quyết định thu hồi đối với hộ bà B là sai quy định tại Luật đất đai.
Trường hợp Công ty Cổ phần S được giao đất
để thực hiện dự án khu dân cư theo Quyết định số 544 ngày 02/3/2010 của UBND tỉnh Đồng Nai, nếu có tranh chấp với hộ bà B thì phải được giải quyết bằng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Việc lập các biên bản vi phạm hành chính là sai về thủ tục quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính do việc lập các biên bản này không được lập tại địa điểm xảy ra vi phạm và lập khống các biên bản này.
Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà B hủy các Quyết định hành chính số 5418, 5978 và buộc UBND huyện L khôi phục lại hiện trạng ban đầu.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện tranh luận:
Ông Nguyễn Văn Hoài (chồng bà Nguyễn Thị B) đã nhận tiền bồi thường, nhận đất tái định cư và bàn giao mặt bằng cho Nhà nước vào năm 2003 để thực hiện dự án Khu dân cư theo quy hoạch. Do bà B tiếp tục trồng tràm, dựng nhà lên đất đã bàn giao nên Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định hành chính số 5418/QĐ-KPHQ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, Quyết định số 5978/QĐ-CCXP cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà B là đúng pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.
- Về quan điểm giải quyết đối với đơn kháng cáo:
Bà Nguyễn Thị B khởi kiện yêu cầu hủy quyết định số 5418/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017 về việc Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định số 5978/QĐ-CCXP ngày 18/12/2017 về việc Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L. Do đó Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xác định đây là “Khiếu kiện yêu cầu hủy quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai” là đúng quan hệ pháp luật tranh chấp.
Theo bản vẽ do Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đồng Nai chi nhánh Long Thành thực hiện ngày 30/8/2017 (BL 83) thì bà B có hành vi chiếm đất ở, dựng nhà, trồng tràm trên diện tích 2332,3m2 tại thửa đất 283, 284, 285, 286, 287b, 290b, 291, 292, 293 tờ bản đồ số 27 xã T. Toàn bộ diện tích nằm trong dự án Khu dân cư Tam An 1 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai giao đất cho Công ty Sonadezi tại Quyết định số 544/QĐ-UBND ngày 02/3/2010. Phần đất này đã được UBND tỉnh Đồng Nai ban hành quyết định thu hồi đất, bồi thường do thu hồi đất, ông Nguyễn Văn Hoài (chồng bà B) đã nhận tiền bồi thường và tiến hành bàn giao mặt bằng vào ngày 11/12/2003 (BL 319-322, 329), đã bốc thăm nhận lô đất tái định cư (B2).
Việc bà B dựng nhà, trồng tràm trên diện tích đất đã được thu hồi, bồi thường, bàn giao đất là hành vi chiếm đất đối với diện tích 300 m2 đất ở và chiếm đất đối với diện tích 6.696m2 đất nông nghiệp, thuộc dự án Khu dân cư Tam An 1. Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, là đúng quy định tại Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 3, 10, 34 của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Căn cứ biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, ngày 22 tháng 11 năm 2017, Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà B, do đã hết thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định tại Điều 6, 28, 58, 65, 66 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Bà B chưa thực hiện khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm, chưa trả lại đất đã chiếm theo quyết định số 5418/QĐ-KPHQ ngày 22 tháng 11 năm 2017 của Chủ tịch UBND huyện L nên ngày 18/12/2017 Chủ tịch UBND huyện L đã ban hành quyết định số 5978/QĐ-CCXP cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà B là đúng với quy định tại Điều 86, 87 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 33 của Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ, quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Do đó Chủ tịch UBND huyện L ban hành các Quyết đinh 5418 và 5978 là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại các Điều 6, 28, điểm a khoản 2 Điều 38, 58, 65, 66, 85, điểm d khoản 2 Điều 86, 87 và Điều 88 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 10, 31, và Điều 34 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Điều 33 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, bác yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng.
Người khởi kiện; người đại diện theo pháp luật của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L có đơn xin xét xử vắng mặt và đại diện Công ty cổ phần S có đơn xin vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 225 của Luật tố tụng hành chính năm 2015 xét xử vắng mặt những người nêu trên.
Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu và thẩm quyền:
Ngày 05/3/2018 bà Nguyễn Thị B khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Ngày 30/8/2018, bà Nguyễn Thị B khởi kiện bổ sung yêu cầu hủy Quyết định số 5978/QĐ-CCXP ngày 18/12/2017 về việc cưỡng chế thực hiện Quyết định số 5418 cùng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L. Do đó Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xác định đối tượng khởi kiện là “Khiếu kiện yêu cầu hủy quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, trong lĩnh vực đất đai” là đúng quy định tại các Điều 31, Điều 32, Điều 116 của Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Về nội dung:
Ngày 09 tháng 08 năm 2016, Công ty Cổ phần S có Văn bản số 507B/SZL-KDTT, về việc các trường hợp tái lấn chiếm, vướng mắc, trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tại các dự án Khu dân cư Tam An và Khu tái định cư Tam An, gửi UBND tỉnh Đồng Nai.
Ngày 13 tháng 07 năm 2017, tổ công tác theo Quyết định số 2019/QĐ-UBND của huyện L tiến hành kiểm tra và lập biên bản hiện trạng sử dụng đất lấn, chiếm tại Khu dân cư Tam An 1, xã T đối với ông Phạm Văn Ngọc.
Ngày 28 tháng 8 năm 2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường phối hợp UBND xã T lập Biên bản vi phạm hành chính số 28/BB-VPHC đối với bà Nguyễn Thị B vì đã có hành vi vi phạm hành chính, chiếm đất ở. Do bà B không ký và không nhận Biên bản vi phạm hành chính số 28/BB-VPHC, ngày 29 tháng 8 năm 2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường phối hợp UBND xã T niêm yết công khai Biên bản trên tại trụ sở UBND xã T và trụ sở ấp 5 xã T.
Ngày 22 tháng 11 năm 2017, Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Nguyễn Thị B. Theo đó, buộc bà B phải khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm và trả lại đất đã chiếm.
Ngày 06 tháng 12 năm 2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường phối hợp UBND xã T kiểm tra thực tế ghi nhận bà Nguyễn Thị B chưa thực hiện theo nội dung Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ.
Ngày 18 tháng 12 năm 2017, Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 5978/QĐ-CCXP cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Nguyễn Thị B.
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B.
Xét đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị B, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tính hợp pháp của các quyết định hành chính bị khởi kiện:
Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành:
Trên cơ sở Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 28/BB-VPHC ngày 29/8/2017 của Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường, ngày 22/11/2017 Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ về việc Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Nguyễn Thị B (do đã hết thời hạn xử phạt).
Qua kiểm tra, bà B không chấp hành Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017, nên ngày 18 tháng 12 năm 2017 Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 5978/QĐ-CCXP cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Nguyễn Thị B.
Như vậy, Chủ tịch UBND huyện L ban hành các Quyết định trên là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại Điều 6, 28, 58, 65, 66, 85, 86, 87 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 10, Điều 31, Điều 34 của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Điều 33 của Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ, quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Về nội dung các quyết định hành chính bị khởi kiện:
Đối với Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017:
Người khởi kiện thừa nhận có hành vi dựng nhà tạm, trồng tràm khoảng 01 năm tuổi trên diện tích 2.362,30m2 tại thửa số 335, 345 tờ bản đồ số 27, xã T, huyện L nhưng cho rằng đất trên do gia đình mình quản lý sử dụng từ năm 1983 chưa bị thu hồi nên không phải là hành vi chiếm đất.
Tuy nhiên hồ sơ vụ án thể hiện diện tích đất nêu trên đã được thu hồi để thực hiện dự án Khu dân cư tại xã T theo Quyết định 5919/QĐ-UBND ngày 09/6/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (bút lục 196). UBND tỉnh Đồng Nai đã tiến hành bàn giao diện tích đất trên cho Công ty Cổ phần S để thực hiện dự án khu dân cư tại xã T theo Quyết định số 544/QĐ-UBND ngày 02/3/2010 (bút lục199). Ông Nguyễn Văn Hoài ( là chồng bà B ) cũng đã nhận tiền, thể hiện qua các phiếu chi ngày 20/01/2003; ngày 11/12/2003; ngày 01/02/2008 và ngày 27/4/2012 (bút lục 319-321, 329) là của ông Nguyễn Văn Hoài. Đồng thời chữ ký đại diện hộ dân bên giao đất tại biên bản bàn giao mặt bằng cho công ty phát triển Khu công nghiệp Biên Hòa ngày 09/12/2003 (bút lục 196) cũng là của ông Nguyễn Văn Hoài. Gia đình bà B cũng đã nhận lô đất tái định cư (số thứ tự 144 tại Danh sách các hộ dân bốc thăm nhận đất tái định cư là số hiệu lô đất tái định cư D2 - khu công nghiệp Long Thành, khu dân cư Tam An 1, khu tái định cư Tam An do Hội đồng bồi thường huyện L lập ngày 07/11/2005) theo Quyết định số 4311/QĐ.CT-UBT ngày 14/11/2003 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai và đã xây nhà ở ổn định.
Do đó Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận thửa đất số 335, 345, tờ bản đồ số 27, xã T đã được hộ bà Nguyễn Thị B bàn giao cho công ty phát triển Khu công nghiệp Biên Hòa vào ngày 09/12/2003; ông Nguyễn Văn Hoài đại diện hộ dân nhận tiền bồi thường do thu hồi đất năm 2003, nhận đất tái định cư từ năm 2005 và gia đình bà Nguyễn Thị B tái sử dụng diện tích đất đã được thu hồi, đã bàn giao mặt bằng.
Đến ngày 22/11/2017 do đã hết thời hạn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 5514/QĐ-KPHQ buộc bà B phải khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm và trả lại đất đã chiếm là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 6, 28, 65, 66 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Điều 34 của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014.
Đối với Quyết định số 5418/QĐ-CCXP ngày 22/11/2017.
Như đã nhận định nêu trên, Quyết định 5418/QĐ-KPHQ được ban hành đúng pháp luật, và đã được giao cho người vi phạm theo đúng thủ tục. Qua kết quả kiểm tra thực tế do bà B không chấp hành nội dung Quyết định hành chính trên nên việc ngày 18/12/2017, Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 5978/QĐ-CCXP Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà B là đúng với quy định tại Điều 86, 87 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 33 của Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ, quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Do đó Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B là đúng quy định. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện không cung cấp thêm được chứng cứ nào mới nên đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị B không được chấp nhận.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện là có căn cứ nên được chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Các phần khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Do đơn kháng cáo không được chấp nhận nên lẽ ra bà Nguyễn Thị B phải chịu án phí hành chính phúc thẩm, nhưng bà B thuộc diện được miễn án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nên không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hàng chính năm 2015;
1. Bác kháng cáo của bà Nguyễn Thị B. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 24/2020/HC-ST ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ Điều 3, khoản 1 Điều 30, Điều 31, Điều 32, Điều 115, Điều 116, Điều 157, Điều 158, Điều 193, Điều 206 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Áp dụng Điều 6, 28, 58, 65, 66, 85, 86, 87 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 10, Điều 31, Điều 34 của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Điều 33 của Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ, quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B về việc yêu cầu hủy các QĐHC của Chủ tịch UBND huyện L gồm:
+ Quyết định số 5418/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
+ Quyết định số 5978/QĐ-CCXP ngày 18/12/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
2. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị B không phải chịu.
4. Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; (1) - VKSNDCC tại TP Hồ Chí Minh; (1) - TAND tỉnh Đồng Nai; (1) - VKSND tỉnh Đồng Nai; (1) - Cục THADS tỉnh Đồng Nai; (1) - NKK; (1) - NBK; (1) - NLQ; (7) - Lưu VT (6), HS (2) T.22 (BA 36). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Long |