vanban.org

Bản án 71 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
Toµ ¸n nh©n d©n
Thµnh phè Thanh ho¸
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 71/2022/HNG§-ST
Ngµy: 06 / 7/2022
V/v: “Tranh chấp Ly h«n”
nh©n danh
N íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n Nh©n D©n THÀNH PHỐ Thanh Ho¸ - TØnh Thanh HoÁ
Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
- ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Bµ Hoàng Thị Nguyệt
- C¸c Héi thÈm nh©n d©n:
tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Vũ Thị Hồng Nhung – Kiểm sát viên.
123/2022/ QĐXX-ST ngµy 15 tháng 6 năm 2022 gi÷a c¸c ® ¬ng sù:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Ngọc H – Sinh năm 1992 ( vắng mặt)
Địa chỉ: M, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Dương D – Sinh năm 1994 ( vắng mặt)
Địa chỉ: Phố B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 4 năm 2022, tại bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc H trình bày: Anh và chị Nguyễn Dương D kết hôn với nhau vào ngày 05 tháng 6 năm 2018, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T. Sau khi kết hôn vợ chồng thuê nhà sống chung được khoảng hai tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ 2018 cho đến nay không liên lạc và không quan tâm đến nhau. Nay anh H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài. Mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Dương D.

Về con chung: Anh và chị D không có con chung, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh và chị D không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Anh và chị D không có công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với chị Nguyễn Dương D trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập chị D đến Tòa án để làm bản tự khai, đến phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhưng chị D không đến Tòa án để làm việc theo triệu tập của Tòa án, do đó Tòa án không tiến hành phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và phiên hòa giải được.

T¹i phiªn tßa anh H vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Trong đơn đề nghị anh giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn chị Nguyễn Dương D. Chị D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến :

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

- Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ hôn nhân gia đình đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền thụ lý, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định, trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho VKS và cho đương sự đúng quy định. Đảm bảo về mặt thời hạn chuẩn bị xét xử.

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án;

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Người tham gia tố tụng là bị đơn không đến Tòa án làm bản tự khai, không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham gia phiên tòa, không thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điêù 70, 72, Điều 234 BLTTDS. Tuy nhiên bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng bị đơn không đến Tòa. Phía nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc H đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 BLTTDS Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Anh Nguyễn Ngọc H và chị Nguyễn Dương D kết hôn với nhau vào ngày 05 tháng 6 năm 2018, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, anh chị chung sống được 02 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nay không ai quan tâm đến ai, xác định mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài anh chị đã sống ly thân từ 2018 cho đến nay. Anh H làm đơn ly hôn chị D là có căn cứ.

Về con cái: Anh H và chị D không có con chung.

Về tài sản và công nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Ngọc H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu, chứng cứ cã trong hå s¬ vô ¸n đã ® îc xem xét t¹i phiªn tßa và căn cứ kết qủa tranh tụng Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa nhËn ®Þnh:

. Về tố tụng: Anh Nguyễn Ngọc H ( Nguyên đơn) có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị Nguyễn Dương D ( bị đơn) vắng mặt, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng chị D không đến Tòa án. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ kho¶n 2 §iÒu 227; §iÒu 228 BLTTDS để xét xử vắng mặt đối với anh H và chị D

. VÒ h«n nh©n: (Căn cứ vào các BL: 06; 08,09; 28; 29; 30) Anh Nguyễn Ngọc H và chị Nguyễn Dương D kết hôn với nhau trªn c¬ së tù nguyÖn, cã ®¨ng ký kÕt h«n tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T là hôn nhân hợp pháp .

Qu¸ tr×nh vî chång chung sèng hòa thuận được 02 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả, điều này đã được thể hiện qua lời khai của anh H, bà Dương Thị Nga (Mẹ đẻ chị D) và xác nhận của chính quyền địa phương nơi anh chị cư trú. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của anh H và chị D đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho anh Nguyễn Ngọc H được ly hôn chị Nguyễn Dương D.

Về con chung: (Căn cứ vào các BL: 09; 28; 29; 30 ) Anh H và chị D chưa có con chung. Anh H không yêu cầu Tòa án xem xét

Về tài sản chung và công nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

VÒ ¸n phÝ: Anh H là nguyên đơn nên ph¶i chÞu 300.000đồng ¸n phÝ Ly hôn s¬ thÈm theo Điều 147 BLTTDS, điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 1.1 điều 1 phần II, mục A Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

V× các lÏ trªn,

QuyÕt ®Þnh:

Căn cứ vào §iÒu 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 56 LuËt H«n nh©n vµ gia ®×nh; khoản 2 §iÒu 227; §iÒu 228; Điều 271; 273 BLTTDS. §iÒu 6, điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 1.1 điều 1 phần II, mục A Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

1.Về hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Ngọc H được ly hôn chị Nguyễn Dương D.

2. Về con chung: Anh H và chị D chưa có con chung.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4.VÒ ¸n phÝ: Anh H ph¶i chÞu 300.000 đồng ¸n phÝ ly hôn s¬ thÈm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh đã nộp theo biên lai số:A A/2021/0001861 ngày 28/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa. Anh H đã nộp đủ.

Anh H, chị D cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy nhËn b¶n ¸n hoÆc ngµy niªm yÕt b¶n ¸n./.

Cỡ chữ