vanban.org

Bản án 71

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Lê Tài T: 01 (một) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 21 tháng 7 năm 2022.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, b…"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Lê Tài T: 01 (một) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 21 tháng 7 năm 2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2022HS-ST
Ngày: 21/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA - TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Chung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Trứ

Ông Lê Thanh Miện

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Mai – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2022/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Tài T, sinh năm 1993;

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Nơi cư trú: Thôn Phú Mẫn, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Lái xe

Trình độ văn hóa: 12/12

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không

Con ông: Lê Tài Cách, sinh năm 1971; Con bà: Nguyễn Thị Hồng, sinh năm 1973; Vợ: Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1995; Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018; Anh, chị em ruột: Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất;

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 11/4/2022 đến ngày 20/4/2022 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+/ Anh Ngô Văn Lương, sinh năm 1983 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: thôn Lạc Yên 1, xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang

+/ Anh Nguyễn Văn Thủy, sinh năm 1992 (có mặt).

Nơi cư trú: thôn Đông Xuyên, xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, Bắc Ninh

+/ Anh Lê Tài Cách, sinh năm 1971 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

+/ Chị Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1995 (có mặt).

Địa chỉ: thôn Phú Mẫn, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

+/ Ông Lê Tài Thủy, sinh năm 1955 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: SN 117, ngõ 264, tổ 14, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Kế hoạch công tác tuần của Đội Cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện Hiệp Hòa từ ngày 11/4/2022 đến ngày 17/4/2022. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 11/4/2022 tại đường tỉnh lộ 295 thuộc thôn Ngọc Liễn, xã Châu Minh, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Tổ công tác của Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Hiệp Hòa gồm các đồng chí Phạm Đức Tiến (tổ trưởng), Nguyễn Mạnh Đại, Vũ Đình Quang, Đoàn Thế Chí và Ngô Văn Hảo (là tổ viên) phát hiện xe ô tô Ford Transit biển kiểm soát 29B-075.80 do anh Nguyễn Văn Thủy, sinh năm 1992 ở thôn Đông Xuyên, xã Đồng Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh điều khiển chạy quá tốc độ quy định (64 km/h tại đoạn đường được phép chạy tối đa 50km/h). Tổ công tác đã ra hiệu lệnh dừng xe thì anh Thủy dừng xe và xuống xe để làm việc.

Đồng chí Đoàn Thế Chí thông báo lỗi vi phạm và yêu cầu anh Thủy xuất trình giấy tờ xe. Do không mang theo giấy tờ xe nên anh Thủy gọi điện thoại cho Lê Tài T, sinh năm 1993 ở thôn Phú Mẫn, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mang giấy tờ lên (anh Thủy được Tân nhờ lái xe chở khách đi ăn cỗ ở Hiệp Hòa) cho anh Thủy. Tân điều khiển xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 99D1-253.48 của chị Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1995 (vợ của Tân) chở ông Lê Tài Cách, sinh năm 1971 (bố của Tân) ở cùng thôn đến chỗ xe vi phạm. Khi đến nơi, Tân được đồng chí Chí thông báo về lỗi xe vi phạm, Tân không nói gì mà lên xe ô tô, lợi dụng xe đang nổ máy điều khiển xe đi thẳng về phía cầu Đông Xuyên. Lúc này, đồng chí Quang và đồng chí Chí đang đứng trước đầu xe phát hiện Tân điều khiển xe bỏ đi nên đã ra hiệu lệnh dừng xe nhưng Tân không dừng lại mà tiếp tục điều khiển xe đi thẳng làm đồng chí Quang và Chí phải tránh sang bên đường. Đồng chí Tiến dùng xe ô tô cảnh sát chuyên dụng đuổi theo nhưng Tân vẫn chạy thoát. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Tân điều khiển xe ô tô quay lại vị trí vi phạm để làm việc với Tổ công tác. Tổ công tác đã thu giữ 01 chiếc xe ô Ford Transit biển kiểm soát 29B-075.80 (Bút lục 51-52). Sau đó, Tân đến Công an huyện Hiệp Hòa đầu thú về hành vi phạm tội của mình, giao nộp 01 điện thoại di động Samsung và 01 giấy phép lái xe hạng D mang tên Lê Tài T (Bút lục 114).

Cùng ngày, ông Lê Tài Cách giao nộp 01 xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 99D1-253.48.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Thế Cường - Trưởng Công an huyện Hiệp Hòa đã ủy quyền cho ông Ngô Văn Lương - Đội trưởng Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Hiệp Hòa tham gia tố tụng. Ông Lương không có yêu cầu Tân phải bồi thường.

Từ hành vi nêu trên của bị cáo Lê Tài T, tại bản Cáo trạng số: 71/CT-VKS-HH ngày 21/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lê Tài T ra trước Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang để xét xử về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng truy tố và nội dung vụ án đã tóm tắt nêu trên, rất hối hận về việc làm của mình, thành khẩn khai báo và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65; Bộ luật hình sự. khoản 1 Điều 292; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Xử phạt: Bị cáo Lê Tài T từ 12 đến 14 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 28 tháng về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/7/2022. Giao bị cáo cho UBND thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục.

Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.... không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ. Việc xét xử vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này theo khoản 1 Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, phù hợp với dữ liệu điện tử cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ xác định được:

Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 24/12/2021 tại đường tỉnh lộ 295 thuộc thôn Ngọc Liễn, xã Châu Minh, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Hiệp Hòa đang thi hành nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông và phát hiện anh Nguyễn Văn Thủy, sinh năm 1992 ở thôn Đông Xuyên, xã Đồng Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29B-075.80 vi phạm tốc độ. Tổ công tác đã ra hiệu lệnh dừng xe và thông báo lỗi vi phạm, do không mang theo giấy tờ xe nên anh Thủy nhờ Lê Tài T mang giấy tờ xe lên cho anh Thủy, khi đến nơi Tân đã điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29B-075.80 bỏ chạy. Tổ công tác đã truy đuổi nhưng Tân vẫn không chấp hành mà tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Tân điều khiển xe ô tô quay lại vị trí vi phạm để làm việc với Tổ công tác.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Tài T phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đến Cơ quan điều tra đầu thú; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của cơ quan nhà nước, gây hoang mang dao động và làm bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho loại tội này.

Tuy nhiên, bị cáo nhất thời phạm tội, am hiểu pháp luật còn hạn chế, mục đích bỏ chạy là để trả khách không có mục đích trốn chạy, sau khi trả khách xong đã chủ động quay lại vị trí vi phạm để đầu thú về hành vi vi phạm của mình, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

. Đối với anh Nguyễn Văn Thủy là người được Tân nhờ lái chiếc xe ô Ford Transit biển kiểm soát 29B-075.80 chở khách. Anh Thủy không biết hành vi phạm tội của Tân nên không xử lý. Ngày 19/4/2022, Công an huyện Hiệp Hòa ra Quyết định xử phạt đối với anh Thủy về các hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ, điều khiển xe ô tô không có giấy phép phép lái xe, điều khiển xe không mang đăng ký xe và giấy chứng nhận kiểm định.

Đối với ông Lê Tài Cách không biết hành vi phạm tội của Tân nên không xử lý.

. Về trách nhiệm dân sự: Không ai có thiệt hại gì và không yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

. Về vật chứng: Đối 01 xe ô tô Ford Transit biển kiểm soát 29B-075.80 là của ông Lê Tài Cách; 01 xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 99D1-253.48 là của chị Nguyễn Thị Lan; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng D và 01 điện thoại di động Samsung là của Tân, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã trả lại các tài sản trên cho ông Cách, chị Lan và Tân. Do vậy không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 292 và Điều 293 BLTTHS.

1. Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Lê Tài T: 01 (một) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 21 tháng 7 năm 2022. Giao bị cáo cho UBND thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

3.Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo, người có quyền lợi liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt án hợp lệ./.

Cỡ chữ