- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Phan Văn Trọng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ¸n nh©n d©n KHU VỰC 4 - LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2026/HSST Ngày 05/02/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Lý Đức Hiệp
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Trần Quang Tráng
2. Ông: Vàng Hu Chờ
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà: Mào Thị Chiến - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu tham gia phiên toà: Bà: Giàng Thị Dơ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4-Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2026/HSST, ngày 23 tháng 01 năm 2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2026/QĐXXST-HS ngày 23/01/2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Văn Tr
Sinh năm: 1979, tại tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố Pá Kéo, xã Nậm Hàng, tỉnh Lai Châu.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Thái;
Tôn giáo: Không;
Giới tính: Nam;
Quốc tịch:Việt Nam
Con ông: Phan Văn Ph (đã chết) và con bà: Khoàng Thị Nh (sinh năm 1945) hiện mẹ bị cáo đang sinh sống tại tổ dân phố Pá Kéo, xã Nậm Hàng, tỉnh Lai Châu.
Gia đình bị cáo có 09 anh, chị, em, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình;
Vợ, con: Vợ Lý Thị H - sinh năm 1985 (đã ly hôn) và bị cáo có 01 con, sinh năm 2006.
Tiền sự: Không;
Tiền án: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/10/2025, đến ngày 03/11/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Mường Tè thuộc trại giam Công an tỉnh Lai Châu.
(Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 21 giờ ngày 25/10/2025, Phan Văn Tr, sinh năm 1979, trú tại: Tổ dân phố Pá Kéo, xã Nậm Hàng, tỉnh Lai Châu, đang nằm một mình trong lán chăn nuôi bỏ hoang tại khu vực bờ phải sông Đà, thuộc bản Nậm Manh, xã Nậm Hàng, tỉnh Lai Châu, thì nghe thấy tiếng xuồng mày di chuyển từ hướng hạ lưu lên thượng lưu sông Đà. Khi xuống đến gần khu vực lán nơi Tr đang ở, Tr gọi người điều khiển xuồng vào bờ nhằm mục đích hỏi mua ma túy. Khi xuồng cập bờ, Tr chỉ thấy một người đàn ông lạ mặt không rõ nhân thân, lai lịch. Qua trao đổi, Tr đã mua của người đàn ông này 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng, với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau khi bán ma túy cho Tr xong, người đàn ông nói trên tiếp tục điều khiển xuồng đi theo hướng lên khu vực thủy điện Lai Châu, còn Tr mang số Heroine vừa mua được vào trong lán, trích ra một phần để sử dụng bằng hình thức hít; số ma túy còn lại Tr gói lại bằng mành nilon màu hồng ban đầu, cất giấu vào túi quần phía sau bên phải đang mặc trên người, rồi đi ngủ.
Vào khoảng 08 giờ ngày 26/10/2025, Tr tiếp tục lấy gói Heroine nêu trên trích ra một phần để sử dụng trong lán; số ma túy còn lại Tr gói lại như cũ và cất giấu vào túi quần phía sau bên phải đang mặc trên người. Đến hồi 09 giờ 15 phút cùng ngày, khi Tr đang cho gà ăn tại khu vực phía sau lán chăn nuôi bỏ hoang (trước đó Tr có mang một số con gà lên thả), bên bờ phải sông Đà, thuộc khu vực bản Nậm Manh, xã Nậm Hàng, tỉnh Lai Châu, thì Tổ công tác Công an xã Nậm Hàng tiến hành kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong túi quần phía sau bên phải của Tr 01 gói Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời thu giữ và niêm phong vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.
Tại bản Kết luận giám định số 894/KL-KTHS ngày 29/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu, kết luận:
- Số chất bột, màu trắng thu giữ của Phan Văn Tr có khối lượng 0,83g (Không phẩy tám mươi ba gam).
- Mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Phan Văn Tr gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin). (không hoàn lại mẫu vật giám định).
Tại bản Cáo trạng số: 79/CT-VKSKV4 ngày 23 tháng 01 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4-Lai Châu đã truy tố bị cáo Phan Văn Tr về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Điều luật quy định như sau: “Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…….
Tại phiên tòa hôm nay Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phan Văn Tr theo nội dung bản cáo trạng và đưa ra các căn cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ vật chứng đã thu giữ 01 (một) gói chất bột khô màu trắng có khối lượng 0,83 gam là Heroine thu giữ của bị cáo cùng các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện VKS khẳng định bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và đề nghị HĐXX áp dụng Điều 38; Điều 50; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm 02 tháng đến 03 (ba) năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo không áp dụng hình phạt bổ sung đối bị cáo. Về án phí hình sự sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Về sử lý vật chứng như sau căn cứ vào Điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy:
- 0,70 gam Heroine còn lại sau giám định.
- 01 mảnh nilon màu hồng.
Về phía bị cáo, tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai và bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên. Cơ quan Viện kiểm sát khu vực 4 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng, bị cáo thừa nhận đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai.
Về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:
Xét lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận rằng: Khi khai nhận trước Cơ quan điều tra, bị cáo không hề bị bức cung, nhục hình; các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, bị cáo được đọc lại và tự nguyện ký nhận và bị cáo thừa nhận đã tàng trữ trái phép khối lượng 0,83 (không phẩy tám mươi ba) gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là tự nguyện, khách quan; biên bản, tài liệu điều tra được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và ý kiến của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Lai Châu tham gia phiên tòa đã đưa ra các căn cứ chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ kết luận giám định số 894/KL-KTHS ngày 29/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu đối với mẫu vật thu giữ của bị cáo Tr gửi giám định là ma túy, loại Heroine. Các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bởi vì những quan điểm này phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án cùng lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đã cho thấy: Vào hồi 09 giờ 15 phút ngày 26/10/2025, tại khu vực bờ phải sông Đà thuộc bản Nậm Manh, xã Nậm Hàng, tỉnh Lai Châu, Phan Văn Tr đang có hành vi Tàng trữ trái phép 0,83 gam Heroine, nhằm mục đích sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Nậm Hàng phát hiện, bắt quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Phan Văn Tr phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, học hết lớp 09/12 học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự,với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên vì vậy khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét hành vi phạm tội với tính chất của bị cáo đã gây ra, gây bức xúc cho nhân dân tại địa phương. Với khối lượng ma túy 0,83 gam của bị cáo tàng trữ để sử dụng việc đề nghị của VKS áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS việc đề nghị của VKS xử phạt bị cáo từ 03 năm 02 tháng đến 03 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, HĐXX xét thấy chưa phù hợp cần có một mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của VKS để tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định và cũng là bài học cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, để cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Không
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
- Đối với gói Heroine thu giữ khi bắt quả tang của bị cáo Tr có khối lượng 0,83 gam Cơ quan điều tra đã trích 0,13 gam gửi đi giám định không (hoàn lại mẫu vật theo đúng quy định của pháp luật). Còn lại 0,70 gam
Vật chứng còn lại tịch thu tiêu hủy:
- 0,70 gam Heroine còn lại sau giám định.
- 01 mảnh nilon màu hồng.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ đều cho thấy bị cáo nghề nghiệp Lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ xung đối với bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề liên quan trong vụ án này:
- Về nguồn gốc 0,83 gam Heroine: Phan Văn Tr khai đã mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch. Ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu, chứng cứ nào khác. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu không có căn cứ để điều tra làm rõ.
- Quá trình điều tra xác định trước khi thực hiện hành vi phạm tội Phan Văn Tr đã sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 25/10/2025, Công an xã Nậm Hàng đã tiến hành test nhanh ma túy đối với Phan Văn Tr, kết quả dương tính với chất ma túy. Tuy nhiên Phan Văn Tr không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), nên hành vi của bị cáo không cấu thành tội “sử dụng trái phép chất ma túy”.Vậy HĐXX không đặt vấn đề giải quyết các vấn đề nêu trên.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Tuyên bố bị cáo Phan Văn Tr phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 26/10/2025.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điểm a,c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.Tịch thu tiêu hủy:
- 0,70 gam Heroine còn lại sau giám định.
- 01 mảnh nilon màu hồng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo Điều 331; Điều 333 BLTTHS./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - VKSND Khu vực 4 - Lai Châu; - Bị cáo; - Phòng THA DS Khu vực 4 - Lai Châu; - Phân trại tạm giam Mường Tè - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lai Châu; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lai Châu; - Lưu HS - HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lý Đức Hiệp |