vanban.org

Bản án 71/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 p dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh Q ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh Q 04 (Bốn) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 07/11/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Q - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? 1 p dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2026/HS-ST
Ngày: 26 - 3 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đinh Văn An.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Nguyệt và bà Vũ Thị Hiên.

- Thư ký phiên toà: Ông Ph m Thành Trung - Th m tra viên Toà án nh n d n khu vực 6 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2026, t i trụ sở Toà án nh n khu vực 6 - Ninh Bình xét xử sơ th m công khai vụ án hình sự sơ th m thụ lý số: 28/2026/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2026 (Sau đây viết tắt là: 04/02/2026) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2026/QĐXXST-HS ngày 13/3/2026, đối với bị cáo:

Nguyễn Minh Q, sinh năm 1990 t i tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn V, xã B, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị T; Vợ, con: Chưa; tiền án: Ngày 08/3/2023 Toà án nh n d n huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam cũ (nay là TAND khu vực 6, tỉnh Ninh Bình) xử ph t 24 tháng tù, về tội "Trộm cắp tài sản"; tiền sự: Không; bị cáo bị t m giữ từ ngày 07/11/2025 và chuyển t m giam từ ngày 16/11/2025 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Nguyễn Minh P, sinh năm 1957; nơi cư trú: Thôn V, xã B, tỉnh Ninh Bình; có mặt.

- Anh Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số nhà B đường B, C, phường N, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 07/11/2025, t i khu vực nhà bỏ hoang giáp phía Nam Quốc lộ B, thôn T, xã B, tỉnh Ninh Bình, Tổ công tác Công an xã B phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Minh Q đang cất giữ trái phép 01 gói heroin trong túi quần phía trước bên phải đang mặc. Kiểm tra thu giữ gói giấy b c màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng d ng cục. T i chỗ, Q khai nhận đó là ma túy heroin, cất giữ nhằm mục đích sử dụng cho bản th n. Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản theo quy định của pháp lu t.

*Lực lượng Công an đã thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Minh Q niêm phong trong 01 chai nhựa ký hiệu NT01.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 gói giấy b c màu vàng, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng d ng cục, thu trong túi quần phía trước, bên phải Q đang mặc, được niêm phong ký hiệu QT.

- 01 xe mô tô màu n u, dán nhãn HONDA DREAM II, đeo biển kiểm soát 18Z6-6915, số khung: NJ100200175271; số máy: LC150FMG01575271, trên lốc máy dập chìm chữ HONDA và 01 chìa khóa điện của xe mô tô trên.

* Khám xét kh n cấp nơi ở của Nguyễn Minh Q: Không thu giữ được tài sản, đồ vật gì liên quan đến vụ án.

T i Bản kết luận giám định số 1834/KL-KTHS ngày 12/11/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N, kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,128g (Không phẩy một trăm hai mươi tám gam), loại Heroine (Heroin)"

T i Bản Kết luận giám định số 1835/KL-KTHS ngày 12/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: “Tìm thấy chất Morphine, Codeine trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT01 (ghi thu của Nguyễn Minh Q, sinh năm 1990, trú tại: thôn V, xã B, tỉnh Ninh Bình) gửi giám định”.

* Nguyễn Minh Q khai về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 07/11/2025, Nguyễn Minh Q điều khiển xe mô tô biển số 18Z6-6915 đến khu vực thành phố N cũ, mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy heroin với giá 200.000 đồng, rồi cất giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc. Sau khi mua, Q điều khiển xe về khu vực nhà bỏ hoang giáp phía Nam Quốc lộ B, thôn T, xã B, tỉnh Ninh Bình để sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ gói ma túy nêu trên khi chưa kịp sử dụng.

* Về vật chứng:

Số Heroine do Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1834/KL-KTHS, ghi “Mẫu vật hoàn trả QT” là vật chứng của vụ án được chuyển đến Phòng Thi hành án d n sự khu vực 6 - Ninh Bình.

Đối với 01 xe mô tô màu n u, nhãn hiệu Honda Dream II, biển số 18Z6-6915: Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Minh P1 (bố đẻ bị cáo Q). Ông P1 không biết việc Nguyễn Minh Q sử dụng xe để đi mua, tàng trữ ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trả l i chiếc xe cho ông Nguyễn Minh P1.

* Quá trình điều tra Nguyễn Minh Q đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện trong vụ án.

T i bản cáo tr ng số 105/CT-VKS-KV6 ngày 02/02/2026 của Viện kiểm sát nh n d n khu vực 6 - Ninh Bình đã truy tố Nguyễn Minh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - N: Giữ nguyên quan điểm một phần truy tố đối với bị cáo về tội danh và khung hình ph t; rút một phần quyết định truy tố không áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Sau khi ph n tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): p dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Xử ph t Nguyễn Minh Q từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng của vụ án.

- Bị cáo Nguyễn Minh Q đã thừa nhận và khai báo toàn bộ diễn biến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bản th n vào sáng ngày 07/11/2025 đúng như nội dung bản cáo tr ng đã mô tả và không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì. Bị cáo không có ý kiến gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có tiến hành tố tụng, kết luận giám định và lời khai của người tham gia tố tụng khác, bản th n đã nhận thức rõ lỗi lầm, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình ph t.

- Bà Nguyễn Minh P trình bầy: Nguyễn Minh Q là con đẻ của ông; chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18Z6-6915, nhãn hiệu Honda Dream mà Q sử dụng trong vụ án là tài sản của ông (ông mua chiếc xe này của ông Nguyễn Văn Q1, địa chỉ: Đường B, C, phường N, tỉnh Ninh Bình); ông hoàn toàn không biết Q sử dụng xe để đi mua ma tuý. Quá trình điều tra ông đã nhận l i chiếc xe mô tô trên và không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng th m quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu n i gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đo n tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền h n và trách nhiệm được giao theo quy định.

T i phiên toà Đ i diện Viện kiểm sát rút một phần quyết định truy tố không áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, xác định rõ bị cáo ph m tội không nhằm mục đích thu lời bất chính, bản th n không có thu nhập, không có tài sản riêng, nên đảm bảo căn cứ chấp nhận.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo t i phiên tòa phù hợp với diễn biến nội dung vụ án được chứng minh t i biên bản bắt người ph m tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định về ma túy, cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đo n điều tra, ngoài ra còn phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 07/11/2025, t i khu nhà bỏ hoang giáp phía Nam Quốc lộ B, thôn T, xã B, tỉnh Ninh Bình, Tổ công tác Công an xã B, tỉnh Ninh Bình phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Minh Q đang cất giữ trái phép 0,128 gam ma túy lo i Heroin trong túi quần phía trước bên phải đang mặc, mục đích sử dụng cho bản th n.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Minh Q đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình đối với bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đảm bảo căn cứ pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi ph m tội của Nguyễn Minh Q là nguy hiểm cho xã hội, x m ph m đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự t i địa phương, làm xã hội mất ổn định. Bản th n bị cáo là người có nh n th n xấu, ngày 08/3/2023 đã bị Toà án nh n d n huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam cũ (nay là TAND khu vực 6, tỉnh Ninh Bình) xử ph t 24 tháng tù, về tội "Trộm cắp tài sản", chưa được xoá án tích, nhưng vẫn không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu sửa bản th n, l i tiếp tục sa vào nghiện ngập ma tuý, dẫn đến ph m tội, ngày càng trượt dài vào con đường ph m tội, thể hiện rõ sự coi thường luật pháp. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng hình ph t tù nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi ph m tội và nh n th n của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải t o bị cáo trở thành công d n lương thiện, cũng như tác dụng phòng ngừa tội ph m chung trong xã hội hiện nay trên địa bàn, đặc biệt là tội ph m về ma tuý trong tình hình hiện nay

- Về tình tiết tăng nặng: Năm 2023 bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích nay l i ph m tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái ph m quy định t i điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như t i phiên tòa bị cáo đều thành kh n khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của bản th n, đồng thời thể hiện sự ăn năn hối cải trước pháp luật nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX sẽ c n nhắc để giảm nhẹ một phần hình ph t cho bị cáo, t o điều kiện cho bị cáo yên t m cải t o, sớm tái hòa nhập cộng đồng, cũng như thấy được tính nh n đ o của pháp luật đối với người ph m tội.

Xét thấy cần tiếp tục t m giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án hình sự, nên Quyết định t m giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự .

Về hình phạt bổ sung: Xét mục đích ph m tội, cũng như tình hình kinh tế của bị cáo, nên không cần thiết phải áp dụng hình ph t bổ sung (là ph t tiền) đối với bị cáo theo quy định t i Điều 35 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự như quan điểm của Đ i diện Viện kiểm sát t i phiên toà là phù hợp pháp luật.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Số Heroine thu giữ của bị cáo cùng bao gói, Phòng K - Công an tỉnh N hoàn trả sau giám định, đ y là chất Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu và tiêu huỷ.

- Đối với 01 xe mô tô màu n u, nhãn hiệu Honda Dream II, biển số 18Z6-6915, HĐXX xác định: Đ y là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Minh P (là bố đẻ bị cáo Q). Ông P không biết việc Q sử dụng xe để đi mua, tàng trữ ma túy. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trả l i chiếc xe cho ông P là phù hợp pháp luật.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về vấn đề khác: Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Nguyễn Minh Q, do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định Q có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Căn cứ vào nh n th n cũng như quy định của pháp luật, xác định Nguyễn Minh Q không ph m tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Do đó, Phòng Cảnh sát điềutra tội ph m về ma tuý - Công an tỉnh N đã xử ph t hành chính đối với Q về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính Phủ là phù hợp pháp luật. Do đó, HĐXX không đề cập.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1 p dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh Q ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh Q 04 (Bốn) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 07/11/2025.

2 p dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có số 1834/KL-KTHS, ghi “Mẫu vật hoàn trả QT” của Phòng K - Công an tỉnh N.

(Vật chứng có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 03/02/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tình N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Ninh Bình).

3 Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Minh Q phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ th m, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ