vanban.org

Bản án 71/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/12/2025.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng. Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Mẫu vật hoàn trả gồm M = 0,9273 gam là ma túy, loại Ketamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ghi “Mẫu vật thu giữ ban đầu. Ký hiệu B”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn T - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/12/2025.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2026/HS-ST
Ngày 11 - 5 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoài Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phùng Thị Hằng

Ông Đào Xuân Khương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ninh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Toại - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - N sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2026/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:

Đinh Văn T, sinh năm 2000 tại tỉnh Ninh Bình; Căn cước công dân số 0372000017xx; Nơi cư trú thôn H, xã Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hoá 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn N (đã chết) và bà Bùi Thị Á; có vợ Lò Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/12/2025 đến ngày 05/01/2026 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh N cho đến nay (có mặt)

- Người chứng kiến: Ông Thịnh Đình H1, sinh năm 1969; ông Thịnh Văn L, sinh năm 1962 (đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do là người nghiện và có nhu cầu sử dụng ma tuý, khoảng 14 giờ ngày 28/12/2025, Đinh Văn T đi bộ từ nhà đến khu vực nghĩa trang thuộc thôn T, xã Y, tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma tuý. Tại đây T gặp và hỏi mua của một người thanh niên không quen biết 01 túi ma tuý với giá 500.000 đồng. Sau đó T để trong túi áo khoác bên phải rồi đi bộ đến khu vực gần chùa Đ1 thuộc thôn T, xã Y, tỉnh Ninh Bình để tìm nơi sử dụng. Đến 15 giờ 10 phút cùng ngày thì gặp tổ công tác của Công an xã Y, tỉnh Ninh Bình đang làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện bắt giữ.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ trong túi áo khoác bên phải của T 01 túi nilon màu trắng có khoá kẹp zip viền màu đỏ KT (03 x 2,5) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.

Tiến hành xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma tuý đối với Đinh Văn T. Kết quả: T dương tính với ma tuý đồng thời lấy mẫu nước tiểu gửi đi giám định.

Tiến hành mở niêm phong túi nilon thu giữ của T bên trong chứa tinh thể màu trắng có khối lượng 0,9937 gam (ký hiệu M) để trưng cầu giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 369/KL-KTHS ngày 05 tháng 01 năm 2026 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:“Chất dạng tinh thể màu trắng đựng trong túi nilon ký hiệu M có khối lượng 0,9937 gam, là ma túy, loại Ketamine; Ketamine là chất ma tuý có số thứ tự 40 thuộc bảng Danh mục III; Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

Tại Bản kết luận giám định số 368/KL-KTHS ngày 05 tháng 01 năm 2026 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Tìm thấy Dehydronorketamine trong mẫu nước tiểu thu của Đinh Văn T gửi giám định. Dehydronorketamine là sản phẩm chuyển hoá của Ketamine”.

Tại Cơ quan điều tra Đinh Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Tại Cáo trạng số 29/CT-VKS-KV4 ngày 10 tháng 4 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo Đinh Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt: bị cáo Đinh Văn T từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/12/2025.

- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Mẫu vật hoàn trả gồm M = 0,9273 gam là ma túy, loại Ketamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ghi “Mẫu vật thu giữ ban đầu. Ký hiệu B”.

Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Đinh Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo Đinh Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Lời nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến; phù hợp với quyết định khám người theo thủ tục hành chính (BL 41); biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 28/12/2025 (BL 42-43); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL 44-45); biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng (BL 46); Kết luận giám định số 368, 369/KL-KTHS ngày 05 tháng 01 năm 2026 của Phòng K Công an tỉnh N (BL 51-52) và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ có đủ cơ sở xác định: Hồi 15 giờ 10 phút ngày 28/12/2025 tại thôn T - Đ, xã Y, tỉnh Ninh Bình, Đinh Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,9937 gam ma túy loại Ketamine trong túi áo khoác bên phải nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã Y, tỉnh Ninh Bình phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

a)….

……

c) Heroine, C, Methamphetamine, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

………

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật cần chấp nhận.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết tàng trữ ma túy, loại Ketamine là trái phép, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, tác động rất xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, trí tuệ và sự phát triển bình thường của giống nòi, làm khánh kiệt về kinh tế của người sử dụng ma túy, gây nên sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Trong lúc Nhà nước đã và đang có nhiều biện pháp kiên quyết đấu tranh phòng chống ma túy, đáng lẽ với trách nhiệm của một công dân, bị cáo phải tham gia đấu tranh chống các tệ nạn và tội phạm về ma túy góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội. Nhưng để phục vụ cho nhu cầu của bản thân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có 03 con đều dưới 15 tuổi, có ông nội là ông Đinh Văn Đ được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba, bà nội là bà Mai Thị M, ông ngoại là ông Bùi Văn L1 đều được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì; là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không vì mục đích vụ lợi, nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

- Đối với 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Mẫu vật hoàn trả gồm M = 0,9273 gam là ma túy, loại Ketamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ghi “Mẫu vật thu giữ ban đầu. Ký hiệu B”. Xét ma túy là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng theo điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Về một số tình tiết liên quan đến vụ án:

- Về nguồn gốc Ketamine: Đinh Văn T khai mua của một người thanh niên không quen biết tại khu vực nghĩa trang T1 - Đ, xã Y, tỉnh Ninh Bình. Bản thân T không biết tên, tuổi địa chỉ của người này nếu gặp lại cũng không nhận dạng được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành rà soát, trích xuất camera nhưng không có kết quả. Do vậy không đủ căn cứ để xử lý.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo bị kết án là có tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/12/2025.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Mẫu vật hoàn trả gồm M = 0,9273 gam là ma túy, loại Ketamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ghi “Mẫu vật thu giữ ban đầu. Ký hiệu B”.

(Chi tiết như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 96-THADS (4) ngày 10/4/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Ninh Bình).

3. Về án phí: Bị cáo Đinh Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/5/2026).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ