- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A Chinh và đồng phạm - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiệ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2025/HS-ST Ngày 23 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh, ông Lê Bắc Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Kiều Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Ngô Xuân Vĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2025/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Giàng A C, tên gọi khác: Giàng A D, sinh ngày 31/12/1988 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 02/12; giới tính: Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng A S (đã chết) và bà Lầu Thị T, sinh năm 1966; có vợ là Lầu Thị N, sinh năm 1986 và có 02 con (con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2009); Tiền án: Không;
Nhân thân: Ngày 27/9/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và đã chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 06/5/2015. (đã được xóa án tích)
Tiền sự: Ngày 10/10/2024 bị Công an huyện M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2024 đến nay. Có mặt
2. Giàng A C1, sinh ngày 17/5/1990 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 04/12; giới tính: Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng A C2 (Quả) và bà Vừ Thị D1 (đều đã chết); có vợ là Hờ Thị D2, sinh năm 1991 và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2021); Tiền án: Không;
Nhân thân: Ngày 22/7/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và đã chấp xong hình phạt tù từ ngày 28/02/2019. (đã được xóa án tích)
Tiền sự: Ngày 10/10/2024 bị Công an huyện M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2024 đến nay. Có mặt
3. Giàng A C3, sinh ngày 01/01/1993 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 04/12; giới tính: Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng A D3, sinh năm 1969 và bà Lầu Thị C4, sinh năm 1972; có vợ là Thào Thị M, sinh năm 1994 và có 02 con (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2014); Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 10/10/2024 bị Công an huyện M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2024 đến nay. Có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo Giàng A C: Ông Đỗ Văn T1, Luật sư, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt
- Người bào chữa cho các bị cáo Giàng A C1, Giàng A C3: Ông Lường Duy T2, Luật sư, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 40 phút ngày 03/10/2024, Tổ công tác Công an huyện M phối hợp với lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại bản Huổi Hiểu, xã M, huyện M phát hiện, bắt quả tang Giàng A C sinh năm 1988 trú tại: bản H, xã M, huyện M đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng: 01 gói nilon chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen (nghi là thuốc phiện).
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở Giàng A Chinh kết quả thu giữ:
- 01 khẩu súng có chiều dài 68cm, báng súng bằng gỗ (thu trong tủ quần áo);
- 01 khẩu súng có chiều dài 40cm, báng súng bằng kim loại, 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa 147 viên kim loại hình tròn; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 15 viên kim loại hình trụ màu đồng (thu trong nhà bếp)
- 01 máy hành điện tử nhãn hiệu Tesla; 01 máy khoan điện; 01 máy cắt; 01 thước đo; 01 que hàn; 01 cây dũa dài 20cm; 01 búa dài 23cm; 01 cờ lê; 01 kìm (thu tại khu vực sân trước nhà bếp)
Hồi 23 giờ 00 phút ngày 03/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định: 01 gói nilon chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen có khối lượng 1,37 gam trích 0,61 gam làm mẫu trưng cầu giám định đánh ký hiệu C.
Kết luận giám định số 1918/KL-KTHS ngày 04/10/2024 của Phòng K, Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy; loại Thuốc phiện (nhựa Thuốc phiện), khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,61 gam. Tổng khối lượng vật chứng thu giữ là 1,37 gam; loại Thuốc phiện (nhựa Thuốc phiện).” Số vật chứng này đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M tách ra xử lý tại vụ án khác.
Ngày 03/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định số 750/QĐ-CSHS-KTMT yêu cầu giám định về vũ khí đến Phòng K, Công an tỉnh S:
- 02 khẩu súng gửi giám định ký hiệu A1, A2 là súng gì? Thuộc loại vũ khí nào? Súng còn sử dụng để bắn được không?
- 147 viên kim loại hình tròn có cùng đường kính ký hiệu A3 có phải là đạn gì? thuộc vũ khí quân dụng hay không? Đạn còn sử dụng để bắn được hay không?
- 15 viên kim loại hình trụ màu vàng đồng, có cùng kích thước ký hiệu A4 có phải đạn gì? thuộc vũ khí quân dụng hay không? Đạn còn sử dụng để bắn được hay không?.
Kết luận giám định số: 1920/KL-KTHS ngày 04/10/2024 của Phòng K, Công an tỉnh S kết luận:
- 02 khẩu súng gửi giám định ký hiệu A1, A2 là súng tự chế, thuộc vũ khí quân dụng. Súng vẫn còn sử dụng để bắn được.
- 147 (một trăm bốn mươi bảy) viên kim loại hình tròn, có cùng đường kính, ký hiệu A3 là đạn bi. Không thuộc vũ khí quân dụng. Hiện vẫn còn sử dụng để bắn được.
- 15 (mười năm) viên kim loại hình trụ màu vàng đồng, có cùng kích thước, ký hiệu A4 là đạn hơi (gây tiếng nổ và tạo áp suất). Không thuộc vũ khí quân dụng. Hiện vẫn còn sử dụng để bắn được.
Quá trình điều tra, Giàng A C, Giàng A C1, Giàng A C3 khai nhận:
Với mục đích để săn bắn thú rừng, Giàng A C nảy sinh ý định chế tạo súng. Chính lên mạng tìm hiểu cách chế tạo súng. Do đó C đã đến cửa hàng sửa chữa xe máy (không nhớ tên cửa hàng) tìm mua được 01 bộ giảm xóc xe máy cũ (02 ty giảm xóc) và một số lò xo về nhà cất.
Ngày 23/9/2024, C dùng thước để đo từng bộ phận linh kiện, vẽ hình báng súng lên gỗ, khi C đang làm đến khoảng 8 giờ cùng ngày có Giàng A Câu người cùng bản, đến nhà chơi và thấy C đang chế tạo súng, C nhờ C3 làm cùng hứa sẽ trả tiền công, C3 nhất trí. Tiếp đó C sử dụng máy cắt cắt ống tròn của ty giảm xóc để tạo nòng súng, C bảo Câu cắt gọt gỗ tạo thành báng súng như C đã vẽ sẵn, cũng như đục lỗ để gắn cò súng. Khi C và C3 đang làm thì có Giàng A C1 đến chơi, C tiếp tục nhờ C1 làm súng cùng, hứa trả công, C1 nhất trí. Sau đó C bảo C1 dùng máy hàn, lắp ghép gắn nòng súng, báng súng, lò xo, còn C lấy thanh sắt uốn, mài thành bộ phận cò súng, kim hỏa và gắn lại các bộ phận vào nhau tạo thành khẩu súng dài 68cm có báng súng bằng gỗ.
Sau khi hoàn thiện khẩu súng, C đưa cho C3 100.000đ bảo tìm mua đạn về bắn thử. Câu đã lên mạng tìm và đặt mua được 15 viên đạn với số tiền 100.000đ (Câu không nhớ tên trang mạng đã đặt hàng). Sau đó nhận 15 viên đạn qua người ship hàng bưu điện (không biết họ tên, số điện thoại người giao hàng). Số đạn này C3 đã đưa cho C cất giấu.
Đến ngày 03/10/2024 C, C3, C1 tiếp tục chế tạo khẩu súng thứ 2: Chinh, Câu cắt ty giảm xóc thứ hai thành nòng súng, dùng nhôm thừa khi làm nhà làm thành báng súng. C dùng máy cắt đã nhờ C3 giữ hộ. Khi C, C3 đang làm thì C1 đến. Cũng như lần đầu C bảo C1 dùng máy hàn và que hàn gắn các bộ phận như nòng súng, báng súng và lò xo được C chuẩn bị trước đó thành khẩu súng, C khoan lỗ và tra cò súng vào. Khi hoàn thiện C bảo C3 dùng máy mài để mài nhẵn phần hàn thừa cho khẩu súng đẹp hơn. Cùng ngày 03/10/2024 C, C3, C1 hoàn thiện khẩu súng thứ 2 có nòng súng bằng kim loại thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Đối với các viên kim loại hình tròn dạng hạt C mua ở một hàng tạp hóa ở xã M, huyện M mục đích nhằm sử dụng để làm đạn bắn thử súng trước đó đã chế tạo. Tuy nhiên chưa kịp bắn thử thì cùng ngày 03/10/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra phát hiện, thu giữ.
Đối với hành vi tàng trữ trái phép 1,37 gam Thuốc phiện của Giàng A C, ngày 14/11/2024 của Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh S đã có quyết định tách hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị can Giàng A C, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M để điều tra, xử lý theo thẩm quyền. Ngày 15/4/2025, Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm đối với bị cáo Giàng A C xử phạt 15 (Mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 15/4/2025 (Bản án chưa có hiệu lực pháp luật).
Tại Cáo trạng số: 39/CT-VKS-P1 ngày 28/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố các bị cáo Giàng A C, Giàng A C1, Giàng A C3 về tội: Chế tạo, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Giàng A C, Giàng A C1, Giàng A C3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Giàng A C, Giàng A C1, Giàng A C3 phạm tội Chế tạo, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
Áp dụng điểm khoản 1 Điều 304; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Giàng A C: Tù từ 18 đến 24 tháng.
Áp dụng điểm khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Giàng A C1: Tù từ 12 đến 18 tháng.
Áp dụng điểm khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Giàng A C3: Tù từ 12 đến 18 tháng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu và giao cho Công an tỉnh S tiếp nhận, xử lý theo thẩm quyền đối với 02 khẩu súng quân dụng.
- Đối với 01 chiếc máy hàn điện tử nhãn hiệu Tesla màu trắng; 01 chiếc máy cắt không rõ nhãn hiệu màu cam đen; 01 chiếc máy khoan nhãn hiệu Nam Việt màu đỏ đen; 01 chiếc thước đo cầm tay bằng kim loại; 01 que hàn; 01 cây đũa dài khoảng 20cm; 01 chiếc búa dài khoảng 23cm; 01 chiếc cờ lê bằng kim loại màu trắng; 01 chiếc kìm kẹp. Xét thấy không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí xem xét theo quy định pháp luật. Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Giàng A C: Nhất trí về tội danh, điều luật Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử đánh giá về mục đích chế tạo 02 khẩu súng của bị cáo chỉ để săn bắt, không nhằm mục đích nguy hiểm nào khác. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật hạn chế. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 18 đến 19 tháng tù. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về tổng hợp hình phạt: Tại Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 15/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã xử phạt bị cáo Giàng A C 15 (Mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, bản án nêu trên chưa có hiệu lực pháp luật, đề nghị không tổng hợp hình phạt. Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo Giàng A C1, Giàng A C3: Đối với hành vi phạm tội của các bị cáo Giàng A C1, Giàng A C3 là nhất thời, tình cờ không có sự thống nhất từ trước, nhận thức của các bị cáo còn lạc hậu. Trong vụ án các bị cáo C1, C3 tham gia với vai trò thứ yếu, làm theo sự chỉ đạo của bị cáo Giàng A C nên đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 2 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội do lạc hậu, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, m khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Giàng A C1, Giàng A C3 dưới khung hình phạt, có thể cho hưởng án treo. Do các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Các bị cáo Giàng A C, Giàng A C1, Giàng A C3 không có ý kiến tranh luận thêm, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội:
Các bị cáo Giàng A C, Giàng A C1, Giàng A C3 khai nhận: Trong các ngày 23/9/2024 và 03/10/2024, Giàng A C, Giàng A C3, Giàng A C1 cùng nhau dùng máy cắt sắt, máy hàn, cắt tạo nòng súng, bộ phận cò, báng súng và hàn lắp ghép tạo thành 02 khẩu súng tại nơi ở của Giàng A C ở bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La kết luận giám định là “Súng quân dụng”.
Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Lệnh khám xét khẩn cấp đối với Giàng A C vào ngày 03/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Sơn La.
- Biên bản khám xét vào hồi 18 giờ ngày 03/10/2024 tại chỗ ở của Giàng A C phát hiện các vật chứng là súng quân dụng đã thu giữ của bị cáo.
- Biên bản mở niêm phong, giao nhận mẫu vật vào ngày 04/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Sơn La.
- Kết luận giám định số: 1920/KL-KTHS ngày 04/10/2024 của Phòng K, Công an tỉnh S.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Giàng A C phạm tội Chế tạo, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, các bị cáo Giàng A C1, Giàng A C3 phạm tội Chế tạo trái phép vũ khí quân dụng với tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 07 năm như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Các bị cáo Giàng A C, Giàng A C1, Giàng A C3 đều có nhân thân xấu. Đối với bị cáo Giàng A C đã bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại Bản án số 62/2013/HSST ngày 27/9/2013, bị cáo chấp hành xong nghĩa vụ thi hành án dân sự ngày 27/9/2013 và chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/5/2015; đối với bị cáo Giàng A C1 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 7 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số 65/2014/HSST ngày 22/7/2014, bị cáo chấp hành xong nghĩa vụ thi hành án dân sự ngày 20/6/2018 và chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/02/2019. Theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự thì các bị cáo Giàng A C, Giàng A C1 thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích. Ngoài ra, các bị cáo Giàng A C, Giàng A C1, Giàng A C3 đều có tiền sự do Công an huyện M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy, chưa được xóa tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã 02 lần chế tạo súng quân dụng nên áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Giàng A C đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm, bị cáo có bố đẻ là Giàng A S có công với cách mạng, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nên được áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Các bị cáo Giàng A C, Giàng A C1, Giàng A C3 đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý vũ khí quân dụng, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Giàng A C là người khởi xướng việc chế tạo súng và rủ các bị cáo Giàng A C1, Giàng A C3 cùng chế tạo 02 khẩu súng mục đích sử dụng để săn bắt, giữ vai trò chính. Các bị cáo Giàng A C1, Giàng A C3 là đồng phạm giúp sức cho bị cáo C. Cần áp dụng Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp, đảm bảo được tính răn đe và phòng ngừa chung. Xét mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, phù hợp. [5] Về hình phạt bổ sung
Ngoài hình phạt chính, các bị cáo Giàng A C, Giàng A C1, Giàng A C3 còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 304 Bộluật Hình sự, nhưng xét các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, cư trú ở xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 02 khẩu súng quân dụng thu giữ của bị cáo Giàng A C, cần tịch thu và giao cho Công an tỉnh S quản lý theo thẩm quyền.
- Đối với 01 chiếc máy hàn điện tử nhãn hiệu Tesla màu trắng; 01 chiếc máy cắt không rõ nhãn hiệu màu cam đen; 01 chiếc máy khoan nhãn hiệu Nam Việt màu đỏ đen; 01 chiếc thước đo cầm tay bằng kim loại; 01 que hàn; 01 cây đũa dài khoảng 20cm; 01 chiếc búa dài khoảng 23cm; 01 chiếc cờ lê bằng kim loại màu trắng; 01 chiếc kìm kẹp. Quá trình điều tra có căn cứ xác định là tài sản của các bị cáo đã sử dụng để chế tạo súng. Xét thấy không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối 147 viên đạn bi; 15 viên đạn hơi đã bắn thực nghiệm 02 viên, hiện còn 13 viên đạn hơi, kết luận đều không phải vũ khí quân dụng. Cơ quan An ninh điều tra đã chuyển đến Công an huyện M, tỉnh Sơn La xem xét tham mưu với cấp có thẩm quyền để xử lý vi phạm hành chính theo quy định. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý trong vụ án.
Về án phí: Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội Chế tạo, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
Xử phạt bị cáo Giàng A C 15 (Mười lăm) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/10/2024.
1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Giàng A C1 phạm tội Chế tạo trái phép vũ khí quân dụng.
Xử phạt bị cáo Giàng A C1 12 (Mười hai) tháng tù
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/10/2024.
1.3. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Giàng A C3 phạm tội Chế tạo trái phép vũ khí quân dụng.
Xử phạt bị cáo Giàng A C3 12 (Mười hai) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/10/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
2. Về vật chứng, tài sản: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 73 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017:
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) chiếc máy hàn điện tử nhãn hiệu Tesla màu trắng;
+ 01 (Một) chiếc máy cắt không rõ nhãn hiệu màu cam đen;
+ 01 (Một) chiếc máy khoan nhãn hiệu Nam Việt màu đỏ đen;
+ 01 (Một) chiếc thước đo cầm tay bằng kim loại;
+ 01 (Một) que hàn;
+ 01 (Một) cây đũa dài khoảng 20cm;
+ 01 (Một) chiếc búa dài khoảng 23cm;
+ 01 (Một) chiếc cờ lê bằng kim loại màu trắng;
+ 01 (Một) chiếc kìm kẹp.
2.2 Tịch thu và giao cho Công an tỉnh S tiếp nhận, xử lý theo thẩm quyền:
+ 01 (Một) khẩu súng có chiều dài 68cm, phần báng súng bằng gỗ có kích thước 50cm x 12cm, nòng súng dài 27,5cm, đường kính nòng súng là 0,6cm, được đựng trong 01 (một) hộp vật chứng còn nguyên niêm phong.
+ 01 (Một) khẩu súng có chiều dài 40cm, phần báng súng làm bằng kim loại có kích thước 27cm x 4cm, nòng súng dài 17,5cm, đường kính nòng súng là 0,6cm làm bằng kim loại, cò súng làm bằng kim loại có kích thước là 3,5cm x 0,7cm.
Tất cả số súng nêu trên đều thu giữ của Giàng A C. Hiện đang được nhập tại kho K4 - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh S.
(Vật chứng, tài sản: Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/3/2025 giữa Công quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Cục thi hành án dân sự tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Giàng A C, Giàng A C1, Giàng
A C3.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 23/4/2025).
| Nơi nhận: - TANDCC tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Sơn La; - Công an tỉnh Sơn La (ANĐT); - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Sơn La; - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La; - Các bị cáo, người bào chữa; - Phòng Thanh tra, kiểm tra và THA; - Lưu hồ sơ, án văn. HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Bắc Hải Nguyễn Thị Kim Thanh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mai Lan THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mai Lan |