- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị O - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2025/HS-ST Ngày: 11-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Sơn
Ông Nguyễn Công Danh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Cao Thiên – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thiên Lộc – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2025/TLST-HS ngày 22/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-HS ngày 28/10/2025 đối với bị cáo:
Trần Thị O, sinh năm 1961 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Thành phố Hồ Chí Minh); HKTT và nơi ở hiện nay: Ấp P, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Giới tính: Nữ; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị X (đã chết); Bị cáo có chồng là Lâm Văn C, sinh năm 1960 và có 07 người con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 2002.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 41/LC-TA ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện đang cư trú tại ấp P, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Thuận H, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp L, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người làm chứng:
+ Ông Lâm Văn C, sinh năm 1960. Địa chỉ: Ấp P, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
+ Bà Lâm Thị Ngọc D, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp P, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
+ Lâm Thị Ngọc T, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp P, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
+ Ông Lâm Hòa T1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp P, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có tiền tiêu xài nên trong khoảng thời gian từ 8 giờ đến 15 giờ 30 phút vào các ngày từ ngày 17/02/2025 đến ngày 23/02/2025, Trần Thị O đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bán lô, số đề của các đài miền N, T2 và B cho nhiều đối tượng tại khu vực nhà O ở tổ A ấp P, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi các đối tượng có nhu cầu mua số lô đề, O ghi lại vào tờ giấy bất kỳ được cắt nhỏ, rồi sử dụng điện thoại di động hiệu REALME X2 Pro chụp lưu lại trong ứng dụng ảnh để đối chiếu kết quả xổ số rồi giao lại tờ giấy ghi số cho người chơi giữ, nếu người chơi đã ghi sẵn số lô, đề cần mua vào giấy, O chỉ chụp hình và trả lại giấy. Khi có kết quả xổ số và có người trúng thưởng, người chơi đến gặp trực tiếp và nhận tiền từ O. Sau khi chung chi tiền xong, O xoá toàn bộ hình ảnh đã chụp trong ngày để tiếp tục thực hiện vào các ngày tiếp theo.
* Đối với hình thức bán số đề và mức độ thắng thua theo từng đài sổ xố kiến thiết theo từng miền, cụ thể như sau:
- Bán đầu đuôi, bao lô 02 con, bao lô 03 con, xỉu chủ, đá bộ 02 số, đá bộ 03 số, đá xiên bộ 02 số, đá xiên bộ 03 số đài xổ số kiến thiết miền N và đài miền T:
+ Đầu – đuôi: Lấy 2 con số của giải tám và 2 con số cuối của giải đặc biệt. Có mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 70.000 đồng.
+ Bao lô 02 con: Lấy 2 con số cuối của tất cả các giải từ giải tám đến giải đặc biệt (18 lô) có cùng mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 70.000 đồng.
+ Bao lô 03 con: Lấy 3 con số cuối từ giải 7 đến giải đặc biệt (17 lô) có cùng mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 70.000 đồng.
+ Xỉu chủ: Lấy 3 con số của giải 7 và 3 con số cuối của giải đặc biệt (02 lô). Có mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 600.000 đồng.
+ Đá bộ 02 số: Chọn 02 cặp hai con số ngẫu nhiên trong cùng một đài từ giải tám đến giải đặc biệt (36 lô). Có mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 600.000 đồng.
+ Đá bộ 03 số: Chọn 03 cặp hai con số ngẫu nhiên trong cùng một đài từ giải tám đến giải đặc biệt (108 lô). Có mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 600.000 đồng.
+ Đá xiên bộ 02 số: Chọn 02 cặp hai con số ngẫu nhiên của hai đài từ giải tám đến giải đặc biệt (72 lô). Có mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 500.000 đồng.
+ Đá xiên bộ C1 số: Chọn 03 cặp hai con số ngẫu nhiên của hai đài từ giải tám đến giải đặc biệt (216 lô). Có mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 500.000 đồng.
- Bán đầu đuôi, bao lô 02 con, bao lô 03 con, xỉu chủ, đá bộ 02 số, đá bộ 03 số đài xổ số kiến thiết miền B:
+ Đầu – đuôi: Lấy 2 con số của giải bảy (gồm 04 cặp số) và 2 con số cuối của giải đặc biệt. Có mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 70.000 đồng.
+ Bao lô 02 con: Lấy 2 con số cuối của tất cả các giải từ giải bảy đến giải đặc biệt (27 lô) có cùng mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 75.000 đồng.
+ Bao lô 03 con: Lấy 3 con số cuối từ giải sáu đến giải đặc biệt (23 lô) có cùng mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 600.000 đồng.
+ Xỉu chủ: Lấy 3 con số của giải sáu và 3 con số cuối của giải đặc biệt (04 lô). Có mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 630.000 đồng.
+ Đá bộ 02 số: Chọn 02 cặp hai con số ngẫu nhiên trong cùng một đài từ giải bảy đến giải đặc biệt (54 lô). Có mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 600.000 đồng.
+ Đá bộ 03 số: Chọn 03 cặp hai con số ngẫu nhiên trong cùng một đài từ giải bảy đến giải đặc biệt (162 lô). Có mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 600.000 đồng.
Trong khoảng thời gian từ ngày 17/02/2025 đến ngày 23/02/2025, tại khu vực nhà ở tổ A ấp P, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thị O đã bán số lô, đề đài miền N, miền T và miền B cho nhiều đối tượng khác nhau (tất cả đều chưa rõ nhân thân, lai lịch) với số tiền trên 5.000.000 đồng, cụ thể như sau:
1. Vào ngày 17/02/2025:
- Đài miền N gồm xổ số kiến thiết Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Tháp. Tổng số tiền O bán được là 20.455.000 đồng, trong đó: Đầu đuôi là 3.748.000 đồng, bao lô 02 con là 16.173.000 đồng, bao lô 03 con là 272.000 đồng, xỉu chủ là 262.000 đồng. Số tiền trúng thưởng: 12.920.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà O làm chủ các lô số đề của đài miền N trong ngày là 33.375.000 đồng.
- Đài miền B, xổ số kiến thiết Thủ Đô. Tổng số tiền O bán là 3.683.500 đồng, trong đó: Đầu đuôi là 200.000 đồng, bao lô 02 con là 3.037.500 đồng, bao lô 03 con là 184.000 đồng, xỉu chủ là 100.000 đồng, đá bộ C2 số 2 con là 162.000 đồng. Số tiền trúng thưởng: 3.887.500 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà O làm chủ các lô số đề của đài miền T trong ngày là 7.571.000 đồng.
2. Vào ngày 18/02/2025:
- Đài miền N gồm xổ số kiến thiết tỉnh Bến Tre, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và tỉnh Bạc Liêu. Tổng số tiền O bán được là 8.217.500 đồng, trong đó: Đầu đuôi là 3.975.000 đồng, bao lô 02 còn là 3.222.000 đồng, bao lô 03 con là 603.500 đồng, xỉu chủ là 273.000 đồng, xiên 2 con 2 đài là 144.000 đồng. Số tiền trúng thưởng: 3.650.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà O làm chủ các lô số đề của đài miền N trong ngày là 11.867.500 đồng.
- Đài miền T2 gồm xổ số kiến thiết tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Quảng Nam. Tổng số tiền O bán được là 1.226.000 đồng, trong đó: Đầu đuôi là 240.000 đồng, bao lô 02 con là 810.000 đồng, bao lô 03 con là 136.000 đồng, xỉu chủ là 40.000 đồng. Số tiền trúng thưởng: 6.300.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà O làm chủ các lô số đề của đài miền T trong ngày là 7.526.000 đồng.
3. Vào ngày 19/02/2025:
- Đài miền N gồm xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Nai, thành phố Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng. Tổng số tiền O bán được là 10.142.000 đồng, trong đó: Đầu đuôi là 4.346.000 đồng, bao lô 02 con là 3.951.000 đồng, bao lô 03 con là 1.003.000 đồng, xỉu chủ là 266.000 đồng, xiên 2 con 2 đài là 360.000 đồng, xiên 3 con 2 đài là 216.000 đồng. Số tiền trúng thưởng: 9.170.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà O làm chủ các lô số đề của đài miền N trong ngày là 19.312.000 đồng.
- Đài miền bắc, xổ số kiến thiết Thủ Đô. Tổng số tiền O bán được là 10.551.500 đồng, trong đó: Đầu đuôi là 350.000 đồng, bao lô 02 con là 9.247.500 đồng, bao lô 03 con là 460.000 đồng, xỉu chủ là 244.000 đồng, đá 2 số 2 con là 270.000 đồng. Số tiền trúng thưởng: 5.025.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà O làm chủ các lô số đề của đài miền B trong ngày là 15.576.500 đồng.
4. Vào ngày 20/02/2025:
- Đài miền N gồm xổ số kiến thiết Tỉnh Tây Ninh và tỉnh An Giang. Tổng số tiền O bán được là 29.559.000 đồng, trong đó: Đầu đuôi là 5.862.000 đồng, bao lô 02 con là 22.401.000 đồng, bao lô 02 con là 748.000 đồng, xỉu chủ là 404.000 đồng, xiên 2 con 1 đài là 144.000 đồng. Số tiền trúng thưởng: 10.085.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà O làm chủ các lô số đề của đài miền N trong ngày là 39.644.000 đồng.
- Tại đài miền B, xổ số kiến thiết Thủ Đô. Tổng số tiền O bán được là 5.598.500 đồng, trong đó: Đầu đuôi là 250.000 đồng, bao lô 02 con là 3.847.500 đồng, bao lô 03 con là 805.000 đồng, xỉu chủ là 480.000 đồng, đá 2 số 2 con là 216.000 đồng. Số tiền trúng thưởng: 3.937.500 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà O làm chủ các lô số đề của đài miền B trong ngày là 9.536.000 đồng.
5. Vào ngày 21/02/2025:
- Đài miền N gồm xổ số kiến thiết tỉnh Bình Dương và tỉnh Vĩnh Long. Tổng số tiền O bán được là 10.175.000 đồng. trong đó: Đầu đuôi là 3.563.000 đồng, bao lô 02 con là 3.942.000 đồng, bao lô 03 con là 1.717.000 đồng, xỉu chủ là 521.000 đồng, xiên 2 con 1 đài là 72.000 đồng, xiên 2 con 2 đài là 360.000 đồng. Số tiền trúng thưởng: 7.255.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà O làm chủ các lô số đề của đài miền N trong ngày là 17.430.000 đồng.
6. Vào ngày 22/02/2025:
- Đài miền N gồm xổ số kiến thiết thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An. Tổng số tiền O bán được là 12.953.000 đồng. Trong đó các loại hình: Đầu đuôi là 5.416.000 đồng, bao lô 02 con là 5.697.000 đồng, bao lô 03 con là 1.088.000 đồng, xỉu chủ là 500.000 đồng, xiên 2 con 1 dài là 36.000 đồng, xiên 2 con 2 đài là 216.000 đồng. Số tiền trúng thưởng: 6.160.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà O làm chủ các lô số đề của đài miền N trong ngày là 19.113.000 đồng.
7. Vào ngày 23/02/2025:
- Đài miền N gồm xổ số kiến thiết tỉnh Tiền Giang và thành phố Đ (tỉnh Lâm Đồng). Tổng số tiền O bán được là 7.158.000 đồng, trong đó: Đầu đuôi là 2.363.000 đồng, bao lô 02 con là 2.052.000 đồng, bao lô 03 con là 663.000 đồng, xỉu chủ là 280.000 đồng, xiên 2 con 2 đài là 1.800.000 đồng.
Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, khi O đang thực hiện hành vi bán số đề cho Trần Thuận H với hình thức bao lô 2 con số đài xổ số kiến thiết tỉnh Tiền Giang với số tiền 5.000 đồng (tổng số tiền H phải trả cho O là 70.000 đồng) thì Công an xã L, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Ngoài ra, với phương thức thủ đoạn nêu trên trong khoảng thời gian từ ngày 17/02/2025 đến khi bị bắt quả tang vào ngày 23/02/2025, O đã nhiều lần bán số lô, đề đài miền N, miền T và miền B cho nhiều đối tượng khác nhau (tất cả đều chưa rõ nhân thân, lai lịch) với số tiền trung bình từ 841.000 đồng đến 4.645.500 đồng/1 ngày (dưới 5.000.000 đồng).
* Vật chứng thu giữ và xử lý:
- 07 (bảy) tờ giấy có nhiều kích thước khác nhau bên trong có ghi các con số và ghi ngày; 02 (hai) cây bút bi; 01 (một) điện thoại REALME X2 Pro; màu xanh ngọc (đã qua sử dụng).
- Số tiền 7.324.000 đồng (Bảy triệu ba trăm hai mươi bốn nghìn đồng).
Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSKV13 ngày 20/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Thị O về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng. Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị O về tội “Đánh bạc”.
- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Thị O mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Lưu theo hồ sơ vụ án: 07 (bảy) tờ giấy có nhiều kích thước khác nhau bên trong có ghi các con số và ghi ngày.
+ Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) cây bút bi.
+ Tịch thu sung công quỹ: Số tiền 7.324.000 đồng và 01 (một) điện thoại REALME X2 Pro; màu xanh ngọc (đã qua sử dụng).
+ Về số tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 35.130.000 đồng.
- Về án phí HSST: Bị cáo chịu án phí theo quy định.
Bị cáo đồng ý với truy tố của Viện kiểm sát và không tham gia tranh luận. Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B (nay là Công an Thành phố H), Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Đất (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi và tranh luận bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:
Trong khoảng thời gian từ 8 giờ đến 15 giờ 30 phút vào các ngày từ ngày 17/02/2025 đến ngày 23/02/2025, Trần Thị O đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bán lô, số đề của các đài miền N, T2 và B cho nhiều đối tượng khác nhau để thu lợi bất chính tổng số tiền 35.130.000 đồng, cụ thể như sau:
- Ngày 17/02/2025, tổng số tiền O làm chủ các lô số đề đài của các đài miền N là 33.375.000 đồng, đài miền B là 7.571.000 đồng.
- Ngày 18/02/2025, tổng số tiền O làm chủ các lô số đề của các đài miền N là 11.867.500 đồng, đài miền T2 là 7.526.000 đồng.
- Ngày 19/02/2025, tổng số tiền O làm chủ các lô số đề của các đài miền N là 19.312.000 đồng, đài miền B là 15.576.500 đồng.
- Ngày 20/02/2025, tổng số tiền O làm chủ các lô số đề của các đài Miền Nam là 39.644.000 đồng, đài miền B là 9.536.000 đồng.
- Ngày 21/02/2025, tổng số tiền O làm chủ các lô số đề của các đài Miền Nam là 17.430.000 đồng.
- Ngày 22/02/2025, tổng số tiền O làm chủ các lô số đề của các đài miền N là 19.113.000 đồng.
- Ngày 23/02/2025, tổng số tiền O làm chủ các lô số đề của các đài miền N là 7.158.000 đồng.
Xét thấy Trần Thị O đã nhiều lần đánh bạc thông qua hình thức bán lô, số đề cho nhiều đối tượng khác nhau. Số tiền bán lô, số đề mỗi lần đều lớn hơn 5.000.000 đồng. Trần Thị O thừa nhận ngoài công việc chính là làm thuê thì còn nhận bán lô, số đề để kiếm thêm thu nhập. Do đó có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Thị O phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Xét thấy, bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi đánh bạc trái phép được ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật. Bản thân bị cáo là người có việc làm, có thu nhập tương đối ổn định từ nhiều công việc khác nhau. Tuy nhiên vì nhận thức kém và muốn có thêm tiền để tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội để có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng phải xem xét tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã nhiều lần cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo hiện nay đang phải nuôi 01 người con bị bệnh tự kỷ bẩm sinh; hiện nay bị cáo cũng đã lớn tuổi, sức khỏe yếu, bị cáo bị chứng rối loạn phân liệt cảm xúc nên phải điều trị bằng thuốc; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặc dù bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo có 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (trong đó có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự) và có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Hiện nay bị cáo cũng đã lớn tuổi, sức khỏe yếu và đang phải nuôi 01 người con bị bệnh tự kỷ. Trong quá trình tại ngoại, bị cáo đã chấp hành tốt các yêu cầu của cơ quan tố tụng nên nhận thấy bị cáo có đủ khả năng để tự cải tạo mà không cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội. Do đó chỉ cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm để trở thành người công dân tốt biết chấp hành pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
- 07 (bảy) tờ giấy có nhiều kích thước khác nhau bên trong có ghi các con số và ghi ngày là vật chứng của vụ án nên cần lưu theo hồ sơ vụ án.
- 02 (hai) cây bút bi là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại REALME X2 Pro; màu xanh ngọc (đã qua sử dụng) là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Số tiền 7.324.000 đồng thu được của bị cáo là tiền bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
. Về số tiền thu lợi bất chính:
Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 35.130.000 đồng nhưng ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính 35.130.000 đồng để sung vào Ngân sách nhà nước.
Về các vấn đề khác:
- Đối với Trần Thuận H có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số đề của Trần Thị O vào ngày 23/02/2025, với số tiền 70.000 đồng (dưới 5.000.00 đồng). Bản thân H chưa có tiền án, tiền sự về hành vi liên quan đến các tội phạm về “Đánh bạc”; “ Gá bạc” hay “ Tổ chức đánh bạc” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý hình sự đối với H là có căn cứ.
- Đối với các đối tượng mua số đề của Trần Thị O hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị O phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị O số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự, hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 41/LC-TA ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Lưu theo hồ sơ vụ án: 07 (bảy) tờ giấy có nhiều kích thước khác nhau bên trong có ghi các con số và ghi ngày;
- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) cây bút bi.
- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại REALME X2 Pro; màu xanh ngọc (đã qua sử dụng) và số tiền 7.324.000 đồng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 37BB-PTHADS(13) ngày 09/9/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; Biên lai thu tiền số 0005655 ngày 22/9/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H và theo Phiếu xuất kho ngày 06/11/2025 giữa Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh với Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh).
- Sung vào Ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 35.130.000 đồng (Ba mươi lăm triệu một trăm ba mươi ngàn đồng) mà bị cáo O đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009081 ngày 11/11/2025 tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Buộc bị cáo Trần Thị O phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TP Hồ Chí Minh; - VKSND TP Hồ Chí Minh; - VKSND KV 13 – TP HCM; - Công an TP Hồ Chí Minh; - THADS TP Hồ Chí Minh; - Phòng THADS KV 13- TP HCM; - Sở Tư pháp TP Hồ Chí Minh; - Bị cáo; NLQ; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Ngân |