- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thái Bá Phùng - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thái Bá P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - TÂY NINH Bản án số: 71/2025/HS-ST Ngày: 26/9/2025 |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Trang Thái Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hải;
Ông Nguyễn Hồng Phúc.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thế Sự – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Đào – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:
Thái Bá P, sinh năm 1984; tại: tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Số nhà C, Khu N, tổ A, khu phố D, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Số nhà C, Khu nhà ở Đ, tổ A, khu phố D, phường R, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Kỹ sư xây dựng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Bá H và bà Nguyễn Thị L; có vợ Cao Thị C và 03 người con, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền sự, tiền án: không có; được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/5/2025 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: bà Hồ Thị Đ, sinh năm 1986. Địa chỉ: ấp B, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp B, xã H, tỉnh Tây Ninh) (đã chết).
Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Trần Văn T, sinh năm 1994. Địa chỉ: khu phố G, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố G, phường G, tỉnh Tây Ninh). Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Cao Thị C, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số C, khu N, tổ A, khu phố D, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Số C, khu nhà ở Đ, tổ A, khu phố D, phường R, Thành phố Hồ Chí Minh). Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 15/01/2025, Thái Bá P có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô biển số 72C-150.16 lưu thông trên đường T hướng từ phường T đến phường L (nay là phường A), tỉnh Tây Ninh để kiểm tra công trình xây dựng Trường tiểu học L1. Khi đến khu vực trụ điện số 475TB/473TB167 thuộc khu phố G, phường G, tỉnh Tây Ninh thì P điều khiển xe trên làn đường dành cho xe ô tô, sát dãy phân cách, dùng tay phải sử dụng điện thoại di động nhắn tin trên mạng xã hội Zalo với người bạn là anh Lê Văn T1, ngụ A, khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh và không chú ý quan sát phía trước nên không nhìn thấy bà Hồ Thị Đ, ngụ ấp B, xã H, tỉnh Tây Ninh đang điều khiển xe đạp qua đường tại nơi giao nhau với đường nhựa liên khu phố G, phường G đúng quy định, lúc này do khoảng cách gần, P không kịp phanh xe nên phần đầu phía trước bên phải của xe ô tô biển số 70C-150.16 va chạm vào phía sau bên trái xe đạp của bà Đ. Tai nạn giao thông xảy ra làm bà Đ ngã xuống đường và tử vong tại hiện trường.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, thể hiện: Hiện trường xảy ra trên đường tỉnh lộ 787B thuộc khu phố G, phường G, tỉnh Tây Ninh; khu vực xảy ra tai nạn giao thông trên tỉnh lộ 787B giao nhau với đường nhựa liên khu phố G, phường G, đường có dãy phân cách bằng bê tông chia làm hai phần đường, mỗi phần đường có 03 làn đường được kẻ vạch sơn liên tục và vạch sơn đứt quãng, mặt đường nhựa bằng phẳng rộng 21,6m. Phần đường xảy ra tai nạn rộng 10,5m tính từ dãy phân cách đến lề chuẩn. Bên trong vạch sơn liên tục màu trắng, mặt đường rộng 07m, từ tâm vạch sơn đứt quãng cách lề chuẩn 6,55m. Chọn lề đường bên phải theo hướng ngã ba H đi hướng phường L (nay là phường A) làm lề chuẩn, chọn trụ điện số 475TB/473TB167 làm điểm cố định đo đạc:
+ Vị trí số 1 là vị trí nhiều mãnh vỡ nhựa màu trắng nằm trên mặt đường nhựa kích thước trung bình 01m x 1,6m, đo từ tâm cách lề chuẩn 6,4m, cách điểm cố định là 13,5m.
+ Vị trí số 2 là vị trí vết cày không liên tục tạo thành mãng, trên mặt đường nhựa dài 6,75m có hướng tiến ngã ba H đến phường A kết thúc tại phía dưới trục sau bên phải ở vị trí số 4. Đầu vết cày cách lề chuẩn 7,75m và cách tâm vị trí số 1 là 1,25m.
+ Vị trí số 3 là vị trí vết cày không liên tục trên mặt đường nhựa dài 6,75m có hướng tiến ngã ba H đến phường A kết thúc tại trục giữa bên phải xe đạp vị trí số 4. Đầu vết cày cách lề chuẩn 08m và cách vết cày số 2 là 0,5m.
+ Vị trí số 4 là vị trí xe đạp màu đỏ, trên khung xe có chữ Asia màu trắng, xe đạp nằm ngã áp bên phải xuống mặt đường nhựa, đầu xe quay về hướng hương lộ nhựa đuôi xe quay vào lề chuẩn. Trục sau xe đạp cách lề chuẩn 8,95m, trục trước xe đạp cách lề chuẩn 9,9m, tay lái bên trái xe bị gãy biến dạng, cong lệch về phía trước.
+ Vị trí số 5 là vị trí đôi dép nhựa màu đen loại quay kẹp nằm trên mặt đường trạng thái ngửa, cách lề chuẩn 8,65m và cách trục sau số 4 là 1,3m.
+ Vị trí số 6 là vị trí xe ô tô tải Pickup cabin kép biển số 72C-150.16, trạng thái hoạt động, đầu xe quay về hướng phường A, đuôi xe quay về hướng ngã ba H, phường T. Trục sau bên phải xe ô tô tải cách lề chuẩn 8,85m cách điểm cố định 12,5m, cách trục sau xe đạp số 4 là 2,85m, cách tâm vị trí số 5 là 1,5m, trục trước xe ô tô cách lề chuẩn 9,1m và cách điểm cố định 13,1m, xe bị móp lõm kim loại mặt trước đầu trước bên phải nắp capo, kích thước 10cm x 15cm.
+ Vị trí số 7 là vết màu nâu đỏ tạo thành mãng và nhỏ giọt bên cạnh có 01 áo vải dài tay màu đen trên mặt đường nhựa, kích thước trung bình 01m x 1,5m, cách lề chuẩn 7,2m và cách trục trước số 6 là 2,8m.
- Kết luận giám định pháp y tử thi số 10/KLGĐTT-TTPYTN ngày 18/01/2025 của Trung tâm pháp y Thành phố H, kết luận: Hồ Thị Đ tử vong do nứt sọ + tụ máu dưới màng cứng/Chấn thương sọ não/có thai.
- Kết luận giám định số 149, 150/KL-KTHS ngày 23/01/2025, ngày 05/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Thái Bá P và Hồ Thị Đ không có nồng độ cồn trong máu, không tìm thấy chất ma túy.
- Kết luận giám định số 362/KL-KTHS, ngày 10/03/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Giấy phép lái xe hạng B2 của Thái Bá P là thật.
- Kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 13/6/2025 của Hội đồng định giá trị tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã T, kết luận: 01 chiếc xe đạp, loại xe nữ, nhãn hiệu Asia, màu sơn đỏ (đã qua sử dụng), tại thời điểm ngày 15/01/2025 có giá là 300.000 đồng; 01 chiếc xe ô tô tải Pickup cabin kép biển số: 72C-150.16, nhãn hiệu Ford, màu sơn trắng, số máy P4AT2802501, số khung MNCLMF800KW996492, xe mua mới vào năm 2019 (đã qua sử dụng), tại thời điểm ngày 15/01/2025 chiếc xe bị hư hỏng thiệt hại là 5.766.666 đồng.
Quá trình điều tra, Thái Bá P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Hồ Thị Đ.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- Đã trả lại 01 xe ô tô biển số 72C–150.16; 01 camera hành trình hiệu Zeschtec có gắn 01 thẻ nhớ Micro hiệu Korva 32GB; 01 bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 049419, 01 bản gốc giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô số 893427982592/OTOBB.10; 01 giấy chứng nhận kiểm định số DB3403876 cho bà Cao Thị C là chủ sở hữu xe ô tô biển số 72C–150.16.
- Đối với 01 bản gốc giấy phép lái xe số 790180085912 mang tên Thái Bá P cấp ngày 04/5/2018 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu vàng có số Imei 3592653866 và 359265386893958 (đã qua sử dụng, không mở nguồn được) đang tạm giữ, chờ xử lý.
Qua xác minh, Thái Bá P không có tài sản nên không kê biên.
Trách nhiện dân sự: Bà Cao Thị C là vợ của Thái Bá P đã bồi thường chi phí mai táng cho bà Hồ Thị Đ số tiền 270.000.000 đồng, Thái Bá P bồi thường thiệt hại xe đạp số tiền 1.000.000 đồng. Anh Trần Văn T là người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền, không yêu cầu bồi thường gì thêm và đã làm đơn bãi nại cho P. Bà C không yêu cầu P trả lại tiền bồi thường và bồi thường chi phí sửa xe ô tô biển số 72C–150.16.
Tại bản cáo trạng số: 34/CT-VKSKV12 ngày 28 tháng 8 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh đã truy tố bị cáo Thái Bá P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Thái Bá P đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Thái Bá P từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo; ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo Thái Bá P thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Thái Bá P xin lỗi gia đình bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Định tội danh và điều luật áp dụng:
Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 15/01/2025, Thái Bá P điều khiển xe ô tô biển số 72C–150.16 trên đường T, hướng từ phường T đến phường L (nay là phường A), tỉnh Tây Ninh. Khi đến khu vực khu phố G, phường G, tỉnh Tây Ninh, P vừa điều khiển xe ô tô vừa sử dụng điện thoại di động, không chú ý quan sát phía trước, không giữ khoảng cách an toàn nên va chạm với xe đạp do bà Hồ Thị Đ điều khiển cùng chiều phía trước đang chuyển hướng qua đường đúng quy định. Do đó, bị cáo P đã vi phạm khoản 6 Điều 9; khoản 1 Điều 12 của Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ. Hành vi vi phạm của bị cáo P làm bà Đ tử vong.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Thái Bá P đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
[3] Đánh giá về mức độ hành vi phạm tội: Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, bản thân của bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm nhưng vừa điều khiển xe ô tô vừa sử dụng điện thoại di động, không chú ý quan sát phía trước, không giữ khoảng cách an toàn nên va chạm vào xe mô tô do bà Hồ Thị Đ điều khiển lưu thông cùng chiều gây ra tai nạn dẫn đến bà Hồ Thị Đ tử vong là lỗi của bị cáo. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ bảo đảm an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, để giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[4] Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn yêu cầu bãi nại; bị cáo là lao động chính trong gia đình và có nhiều đóng góp cho xã hội là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Xét thấy, bị cáo không có tiền án, tiền sự.
[5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đề nghị áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo P là có căn cứ. Bởi lẽ, bị cáo P chưa có tiền án, tiền sự; có nhân thân tốt; đã bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo P đã thật sự hối hận về hành vi của mình. Xét thấy, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo P có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo P ra khỏi xã hội để cải tạo, giáo dục mà chỉ cần giao bị cáo P cho chính quyền địa phương tiếp tục quản lý vẫn có thể cải tạo, giáo dục bị cáo P chấp hành pháp luật.
[6] Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 xe ô tô biển số 72C–150.16; 01 camera hành trình hiệu Zeschtec có gắn 01 thẻ nhớ Micro hiệu Korva 32GB; 01 bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 049419, 01 bản gốc giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô số 893427982592/OTOBB.10; 01 giấy chứng nhận kiểm định số DB3403876 của bà Cao Thị C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã trả lại cho bà C xong. Ghi nhận bà C không yêu cầu bị cáo P bồi thường thiệt hại.
- Đối với 01 bản gốc giấy phép lái xe số 790180085912, mang tên Thái Bá P cấp ngày 04/5/2018 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu vàng có số Imei 3592653866 và 359265386893958 là giấy tờ và tài sản cá nhân của bị cáo P, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo P.
[7] Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận đại diện hợp pháp của bị hại là ông Trần Văn T đã nhận tổng số tiền bồi thường thiệt hại là 271.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Ghi nhận bà Cao Thị C không yêu cầu bị cáo Thái Bá P trả lại số tiền 270.000.000 đồng và bồi thường chi phí sửa xe ô tô biển số 72C–150.16.
[8] Về án phí: Bị cáo Thái Bá P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Thái Bá P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Thái Bá P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 26 tháng 9 năm 2025.
Giao bị cáo Thái Bá P cho Ủy ban nhân dân phường R, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã tuyên cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận đại diện hợp pháp của bị hại là ông Trần Văn T đã nhận tổng số tiền bồi thường thiệt hại là 271.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Ghi nhận bà Cao Thị C không yêu cầu bị cáo Thái Bá P trả lại số tiền 270.000.000 đồng và bồi thường chi phí sửa xe ô tô biển số 72C–150.16.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại: 01 giấy phép lái xe số 790180085912 cấp ngày 04/5/2018 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu vàng có số Imei 3592653866 và 359265386893958 (đã qua sử dụng, không mở nguồn được) cho bị cáo Thái Bá Phùng .
(theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/9/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Tây Ninh)
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo Thái Bá P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Thái Bá P; bà Cao Thị C được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp bị hại là ông Trần Văn T được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp pháp.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Công an tỉnh Tây Ninh (PV 06); - THADS tỉnh Tây Ninh; - CQ. THA.HS Công an tỉnh Tây Ninh; - VKSND khu vực 12 – Tây Ninh; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trang Thái Châu |