- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ số: 71/2025/HNGĐ-ST ngày: 30 – 6 – 2025; V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con; nguyên đơn: Bà Trần Thị Bé Hai (ấp Phú Hoà, xã Th…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Bé H.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30 – 6 – 2025 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thanh Nhanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Hồng Phượng.
2. Ông Huỳnh Văn Hiệp.
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Hồng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phan Ngọc Điểm – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025, về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 217/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bé H.
Địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng; (Vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Hoàng V.
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện ngày 31 tháng 3 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Bé H trình bày:
Về hôn nhân: Bà Trần Thị Bé H và ông Lê Hoàng V tự nguyện thương nhau, tiến tới cuộc sống hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 16 tháng 8 năm 2013. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Đến đầu năm 2024 thì thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẩn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không còn tiếng nói chung nữa, ai cũng có cuộc sống riêng của mình, tình cảm không thể hàn gắn được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông V.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân bà H và ông V có một người con chung tên Lê Thị Ngọc V1, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2014 hiện đang sống với bà H. Khi ly hôn bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Đối với bị đơn: Ông Lê Hoàng V đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia tố tụng, nhưng ông V đều vắng mặt không lý do, cũng không nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ và văn bản ghi ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của bà H.
3. Ý kiến của con chung: Trong biên bản ghi nhận ý kiến của con chưa thành niên ngày 08 tháng 5 năm 2025, con chung tên Lê Thị Ngọc V1, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2014 hiện đang sống với Trần Thị Bé H, cháu V1 có nguyện vọng được sống chung với bà H.
4. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông Lê Hoàng V chưa chấp hành và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
Về giải quyết vụ án: Có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật; về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn, do bị đơn có nơi cư trú tại ấp B, xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng, nên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn là bà Trần Thị Bé H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Lê Hoàng V đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ H lần, nhưng đều vắng mặt không có lý do và không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt của các đương sự không gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông V được Uỷ ban nhân dân xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16 tháng 8 năm 2013. Tòa án đã thông báo và triệu tập các đương sự tham gia hòa giải, nhưng ông V đều vắng mặt; bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, vì cho rằng bà không còn tình cảm với ông V, nếu tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc. Điều này chứng tỏ, bà H và ông V không có thiện chí hoà giải đoàn tụ, từ đó có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông V không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà H với ông V có 01 con chung tên Lê Thị Ngọc V1, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2014 hiện nay đang sống với bà H. Bà H yêu cầu giao con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, bà không yêu cầu cấp dưỡng vì bà có khả năng nuôi con.
Xét thấy, ông V không có ý kiến gì đối với yêu cầu này của bà H; bên cạnh đó, thì cháu Lê Thị Ngọc V1 cũng có nguyện vọng được sống chung với bà H. Nhằm ổn định cuộc sống cho con chung và tạo điều kiện thuận lợi cho bà H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, nên cần giao cháu V1 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Ông V có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu V1 được sống chung với bà H; ông V cũng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định của khoản 1 và 2 Điều 81; khoản 1 và 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, ông V không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con. Do đó, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, khoản 1 và 2 Điều 81, khoản 1 và 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Bé H.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Trần Thị Bé H được ly hôn với bị đơn ông Lê Hoàng V.
1.2. Về con chung:
- Giao con chung tên Lê Thị Ngọc V1, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2014 cho bà Trần Thị Bé H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Lê Thị Ngọc V1 tròn 18 (mười tám) tuổi.
- Ông Lê Hoàng V có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con chung là Lê Thị Ngọc V1 được sống chung với bà Trần Thị Bé H.
- Ông Lê Hoàng V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Bà Trần Thị Bé H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Lê Hoàng V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Ông Lê Hoàng V không phải cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Bé H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008489 ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; như vậy, bà H đã nộp xong án phí sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Toà án tống đạt bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; - Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; - Uỷ ban nhân dân xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Cao Thanh Nhanh |