vanban.org

Bản án 71/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 19/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Lý Văn H, phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Lý Văn H bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 04/01/2024. Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Lý Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lý Văn H, phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HSST
Ngày: 19/06/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, ông: Lò Xuân Hải.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông: Lý Ngọc Sáng.

Bà: Vàng Thị Thu.

- Thư ký phiên tòa, bà: Dương Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa, ông: Võ Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2024/TL-ST-HS, ngày 21 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 06 năm 2024, đối với bị cáo.

- Lý Văn H: Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 15/10/1981; tại: Huyện Mường T, tỉnh Lai C; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố 11, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; đảng, đoàn: Không; con ông: Lý Văn T( đã chết) và con bà: Tống Thị C, sinh năm 1958; vợ: Vàng Thị N, sinh năm 1985; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân đã bị xử lý, tại bản án số: 06/2003/ HSST ngày 07/05/2003, Lý Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội lần này ngày 04/01/2024, Lý Văn H đã được xóa án tích; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C - Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông: Lý Văn H, sinh năm 1978 - Trú tại: Khu phố 11, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lý Văn H, bà: Trần Thị Bích Ngọc - Luật sư, ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai C - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 04/01/2024, Lý Văn H, điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Anpha, màu đỏ - bạc, biển kiểm soát 25AM - 003.27, chở hàng đi từ thị trấn Mường T để giao hàng cho trạm trung chuyển của công ty J&T ở khu vực xã Mường T, sau khi giao hàng xong. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, H xuất phát từ bản Pắc M, xã Mường T quay về thị trấn Mường T, trên đường quay về thì nảy sinh ý định đi tìm mua Heroine đem về sử dụng. H điều khiển xe máy đi vào khu vực bản Nậm P, H gặp một người phụ nữ lạ mặt, qua trao đổi, H mua được của người phụ nữ này 02 gói Heroine ( Bên ngoài mỗi gói đều được gói bằng một mảnh nilon màu xanh và gói chung lại bằng một mảnh nilon màu xanh), với giá 2.000.000 đồng, sau đó cất giấu vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người rồi tiếp tục điều khiển xe máy quay về thị trấn Mường T. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi H đi về đến Km số 279 + 300. Quốc lộ 4H, thuộc khu phố 09, thị trấn Mường T thì bị tổ công tác Công an huyện Mường T đang làm nhiệm vụ ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra đã phát hiện trong túi áo khoác bên ngực trái mà H đang mặc trên người có 01 túi nilon màu hồng, bên trong có 01 gói nilon màu xanh có 02 gói nilon màu xanh khác đều chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng. Tại đây H đã khai nhận là Heroine của H. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định tư pháp số 07/KLGĐ-TP, ngày 04/01/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C, đã kết luận: 02 gói chất bột khô, màu trắng vật chứng thu giữ của Lý Văn H có tổng khối lượng là 5,99gam.

Tại bản kết luận giám định số: 131/GĐ-KTHS ngày 06/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C, kết luận: 02 Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lý Văn H gửi đến giám định đều là ma túy, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 32/CT-VKS-MT ngày 20 tháng 05 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T đã truy tố Lý Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:

- Về trách nhiệm hình sự: Đối với Lý Văn H, về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm g, khoản 2, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn H từ: 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện hoàn cảnh, kinh tế của bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng thu giữ còn lại của Lý Văn H, bao gồm:

+. 01(một) phong bì công văn Công an huyện Mường T phát hành, các mép được dán kín, mặt trước gói niêm phong ghi 5,31 gam (năm phẩy ba mươi mốt) gam vật chứng còn lại của Lý Văn H, SN: 1981, trú tại: Khu phố 11, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau gói niêm phong dán kín các mép và dán giấy niêm phong đè lên các mép dán theo phong bì, trên giấy niêm phong có ghi đầy đủ chữ ký, họ và tên của: Tống Duy T, Võ Văn T, Lý Văn T, Vàng Văn K và của Lý Văn H, ở hai đầu gói niêm phong mỗi đầu được đóng 01 hình dấu niêm phong của cơ quan CSĐT - Công an huyện Mường T ghi ngày 04/01/2024 (theo KLGĐ: 5,31 gam là Heroine);

+. 03(ba) mảnh nilon màu xanh;

+. 01 (một) túi nilon màu hồng;

+. 01 (một) phong bì công văn do Công an huyện Mường T phát hành, đã bị cắt một đầu.

+. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Anpha, màu đỏ - bạc, biển kiểm soát 25AM - 003.27 (kèm theo một bản phô tô giấy đăng ký xe), trong quá trình điều tra, truy tố đã xác định, chiếc xe máy này là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Lý Văn H (là anh trai ruột của bị cáo Lý Văn H), khi cho bị cáo Lý Văn H mượn chiếc xe máy trên, ông Lý Văn H không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe máy để thực hiện hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra, vào ngày 15/01/2024 ông H đã có đơn xin lại tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Lý Văn H theo quyết định xử lý vật chứng số: 160/QĐ-CSĐT, ngày 17/01/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C. Ông Lý Văn H đã nhận lại được tài sản theo biên bản ngày 18/01/2024 về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu, của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, ông Lý Văn H không có ý kiến gì thêm. Nên không đề cập xử lý.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Bị cáo Lý Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông: Lý Văn H (là anh trai ruột của bị cáo Lý Văn H) trình bày, khi cho bị cáo Lý Văn H mượn chiếc xe máy trên, ông không biết việc bị cáo Hiệp sử dụng chiếc xe máy để thực hiện hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra, ông đã có đơn xin lại tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại và ông đã nhận lại được tài sản. Trong quá trình điều tra, truy tố ông không có ý kiến gì thêm. Tại phiên tòa hôm nay, ông xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lý Văn H.

Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích tính chất, hành vi, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, người bào chữa đồng ý với nội dung cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; về án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 16 giờ 30 phút, ngày 04/01/2024 tại Km số 279 + 300. Quốc lộ 4H, thuộc khu phố 09, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Lý Văn H đang tàng trữ trái phép 5,99 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C phát hiện, bắt quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T đã truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội. Bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Lý Văn H luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo. Nhận thấy bị cáo làm nghề nghiệp trồng trọt, là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có hoàn cảnh kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Đây cũng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, xét thấy: Bị cáo Lý Văn H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân bị cáo Lý Văn H có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 08/12, lớn lên lấy vợ và ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, là người sử dụng chất ma túy. Bản thân đã bị xử lý tại bản án số: 06/2003/ HSST ngày 07/05/2003, Lý Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội lần này ngày 04/01/2024, Lý Văn H đã được xóa án tích. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì mục đích sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã cố ý phạm tội.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo làm nghề nghiệp trồng trọt, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng thu giữ còn lại của Lý Văn H, bao gồm:

- 01(một) phong bì công văn Công an huyện Mường T phát hành, các mép được dán kín, mặt trước gói niêm phong ghi 5,31 gam (năm phẩy ba mươi mốt) gam vật chứng còn lại của Lý Văn H, SN: 1981, trú tại: Khu phố 11, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau gói niêm phong dán kín các mép và dán giấy niêm phong đè lên các mép dán theo phong bì, trên giấy niêm phong có ghi đầy đủ chữ ký, họ và tên của: Tống Duy T, Võ Văn T, Lý Văn T, Vàng Văn K và của Lý Văn H, ở hai đầu gói niêm phong mỗi đầu được đóng 01 hình dấu niêm phong của cơ quan CSĐT - Công an huyện Mường T ghi ngày 04/01/2024, theo kết luận giám định 5,31 gam là Heroine.

- 03(ba) mảnh nilon màu xanh.

- 01 (một) túi nilon màu hồng.

- 01 (một) phong bì công văn do Công an huyện Mường T phát hành, đã bị cắt một đầu.

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Anpha, màu đỏ - bạc, biển kiểm soát 25AM - 003.27 (kèm theo một bản phô tô giấy đăng ký xe), trong quá trình điều tra, truy tố đã xác định, chiếc xe máy này là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Lý Văn H (là anh trai ruột của bị cáo Lý Văn H), khi cho bị cáo Lý Văn H mượn chiếc xe máy trên, ông Lý Văn H không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe máy để thực hiện hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra, vào ngày 15/01/2024 ông H đã có đơn xin lại tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Lý Văn H theo quyết định xử lý vật chứng số: 160/QĐ-CSĐT, ngày 17/01/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C. Ông Lý Văn H đã nhận lại được tài sản theo biên bản ngày 18/01/2024 về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu, của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C, ông Lý Văn H không có ý kiến gì thêm. Xét thấy việc xử lý vật chứng đối với chiếc xe máy như trên của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Bị cáo Lý Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. [9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Lý Văn H đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự; do vậy ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về: Tội danh; điều luật áp dụng; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận. [10]. Đối với người phụ nữ lạ mặt đã bán Heroine với giá 2.000.000 đồng cho bị cáo Lý Văn H. Trong qúa trình điều tra, truy tố không xác định được lai lịch của người phụ nữ này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [11]. Đối với ông Lý Văn H, khi cho bị cáo Lý Văn H mượn xe máy, ông H không biết bị cáo H dùng xe máy để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, do đó ông H không đồng phạm với bị cáo H, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, không truy tố. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [12]. Đối với lời bào chữa của người bào chữa, xét thấy: Sau khi tranh luận, người bào chữa đồng ý với nội dung bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T, là phù hợp về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy là có căn cứ theo quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo: Lý Văn H, phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lý Văn H: 05 năm tù.

- Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Lý Văn H bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 04/01/2024.

- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Lý Văn H.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng thu giữ còn lại của bị cáo Lý Văn H, bao gồm:

+. 01(một) phong bì công văn Công an huyện Mường T phát hành, các mép được dán kín, mặt trước gói niêm phong ghi 5,31 gam (năm phẩy ba mươi mốt) gam vật chứng còn lại của Lý Văn H, SN: 1981, trú tại: Khu phố 11, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau gói niêm phong dán kín các mép và dán giấy niêm phong đè lên các mép dán theo phong bì, trên giấy niêm phong có ghi đầy đủ chữ ký, họ và tên của: Tống Duy T, Võ Văn T, Lý Văn T, Vàng Văn K và của Lý Văn H, ở hai đầu gói niêm phong mỗi đầu được đóng 01 hình dấu niêm phong của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường T ghi ngày 04/01/2024, theo kết luận giám định 5,31 gam là Heroine.

+. 03(ba) mảnh nilon màu xanh.

+. 01 (một) túi nilon màu hồng.

+. 01 (một) phong bì công văn do Công an huyện Mường T phát hành, đã bị cắt một đầu.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lý Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ