vanban.org

Bản án 71/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Thạnh, TP. Cần Thơ Tuyên án 24/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lê T phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê T 02 (Hai ) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2024. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 71/2024/HS-ST Ngày 24 tháng 12 năm 2024 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lê T phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THẠNH
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HS-ST
Ngày 24-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TP. CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Nhật Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Ngô Hoàng Bá

2/ Bà Đoàn Sơn Lâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thạch- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Hoàng- Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Lê T (Trinh sụi); sinh ngày 01/01/1986; Nơi sinh: Cần Thơ; Nơi thường trú: ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; họ tên cha: Nguyễn Hữu H, sinh năm 1954 (Đã chết); họ tên mẹ: Lê Thị N, sinh năm: 1952; anh chị ruột: Có 05 người lớn nhất sinh năm 1979 nhỏ nhất 1992; Vợ; Con: không có; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/9/2024 cho đến nay. (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày T điều khiển xe mô tô biển số 66N8

- 1355 đi từ nhà đến kênh A thuộc ấp V, xã V để mua ma túy về sử dụng, khi đến nơi T điều khiển xe vào kênh 15 được khoảng 100 mét gặp một người phụ nữ khoảng 40 tuổi (T thường gọi là chị M) mua 200.000 đồng ma túy loại Heroin, khi nhận được ma túy T cầm trên tay trái rồi điều khiển xe chạy vào kênh 8 thuộc ấp V, xã V gặp một người phụ nữ khoảng 50 tuổi (T thường gọi bà S) hỏi mua 100.000 đồng ma túy đá, T đưa tiền và nhận ma túy bỏ vào túi quần, tiếp tục điều khiển xe chạy về nhà, khi đi đến đầu kênh H thì gặp lực lượng Công an, do sợ T đã ném 02 gói ma túy xuống đường để phi tang nhưng bị phát hiện cùng tang vật. Ngoài ra T còn thừa nhận bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2005 đến nay, T đã mua ma túy loại Heroin của chị M được 02 lần giá 200.000 đồng và mua ma túy đá của bà S được khoảng 10 lần mỗi lần 100.000 đồng, mục đích để sử dụng cá nhân.

Tại Kết luận giám định số 294/KL-KTHS, ngày 26/9/2024 của Phòng K, Công an thành phố C, kết luận: mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,1542 gam; mẫu ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,0771 gam

Vật chứng còn thu giữ gồm: 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng M1: 0,1102 gam và M2: 0,0246 gam, được niêm phong số 294/KL-KTHS, ngày 26/9/2024 có đóng dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố C và chữ ký cán bộ niêm phong tên Đào Thị Thủy T1; 01 xe mô tô có số máy VMVUABD006589, số khung: RLGKA11BDCD006589 có biển số 66N8 – 1355.

Tại Cáo trạng số 73/CT-VKSVT ngày 12/11/2024 và tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê T phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đề nghị áp dụng: Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Lê T mức án từ 02 năm 06 tháng năm tù đến 03 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

+Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự:

Đề nghị hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng M1: 0,1102 gam và M2: 0,0246gam, được niêm phong số 294/KL-KTHS, ngày 26/9/2024 có đóng dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố C và chữ ký cán bộ niêm phong tên Đào Thị Thủy T1; tịch thu sung quỷ 01 xe mô tô có số máy VMVUABD006589, số khung: RLGKA11BDCD006589 có biển số 66N8 – 1355.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Nguyễn Lê T đã trực tiếp đến xã V mua ma túy của hai người phụ nữ có tổng khối lượng 0,2313 gam (trong đó loại Heroine có khối lượng 0,1542 gam, loại Methamphetamine có khối lượng: 0,0771 gam) sau đó cất giấu mục đích để sử dụng cá nhân nên bị cáo Nguyễn Lê T thực hiện đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i - khoản 1 - Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng của bị cáo gây tác hại trước hết cho chính bị cáo, sau đó là gia đình bị cáo và xã hội. Ma túy làm hủy hoại sức khỏe, làm mất khả năng lao động, tiêu hao tiền bạc của bản thân người nghiện và gia đình, gây mất trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ma túy là nguyên nhân phát sinh ra các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục, trừng trị bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân bị cáo có xấu nhưng tiền án tiền sự đã được xóa.

- Tình tiết tăng nặng không có.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có trình độ học thức kém được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để giáo dục và trừng trị bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng M1: 0,1102 gam và M2: 0,0246 gam, được niêm phong số 294/KL-KTHS, ngày 26/9/2024 có đóng dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố C và chữ ký cán bộ niêm phong tên Đào thị T2 nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp;

Đối với 01 xe mô tô có số máy VMVUABD006589, số khung: RLGKA11BDCD006589 có biển số 66N8 – 1355 liên quan đến vụ án nên tịch thu sung quỷ nhà nước là phù hợp.

Đối với hai người phụ nữ bán ma túy, T thường gọi chị M và bà S do không xác định họ tên, địa chỉ nên không tiếp xúc làm việc được, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Bị cáo Nguyễn Lê T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo, được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lê T phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào, Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê T 02 (Hai ) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng M1: 0,1102 gam và M2: 0,0246gam, được niêm phong số 294/KL-KTHS, ngày 26/9/2024 có đóng dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố C và chữ ký cán bộ niêm phong tên Đào Thị Thủy T1; tịch thu sung quỷ nhà nước 01 xe mô tô có số máy VMVUABD006589, số khung: RLGKA11BDCD006589 có biển số 66N8 – 1355.

(Vật chứng được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh theo Quyết định chuyển vật chứng số:59/QĐ-VKSVT ngày 12/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Lê T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ