vanban.org

Bản án 71/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Công L.

Về hôn nhân: Ông Trần Công L được ly hôn với bà Phan Thị Cà C. Về nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung: Ông L xác định ông và bà C không có con chung, bà C không có ý kiến phản hồi nên Tòa án không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Công L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 08 – 4 – 2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Thức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Lin;

Bà Trần Thị Đổi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 08 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1419/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Công L, sinh năm 1976

Địa chỉ: Số D đường D ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Phan Thị Cà C, sinh năm 1983

Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Ông L xin vắng mặt, bà C vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/12/2023, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Trần Công L trình bày: Ông và bà Phan Thị Cà C là vợ chồng cưới nhau từ năm 2004, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 11/7/2004. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến thời gian gần đây thì vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, cải vã, không tìm được tiếng nói chung, chung sống không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên ông và bà C đã ly thân với nhau.

Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Phan Thị Cà C.

Về nuôi con chung: Trong quá trình chung sống, ông và bà C không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản: Ông L1 xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông L1 xác định ông và bà C không có nợ ai.

Bị đơn là bà Phan Thị Cà C được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án thể hiện việc ông L yêu cầu được ly hôn với bà C nhưng bà C vẫn vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của ông L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trần Công L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Phan Thị Cà C. Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; Bà C hiện đang cư trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An. Thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

. Nguyên đơn là ông Trần Công L có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

. Nguyên đơn là ông Trần Công L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn là bà Phan Thị Cà C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Trần Công L:

Về hôn nhân: Xét thấy, ông Trần Công L và bà Phan Thị Cà C tự nguyện sống chung và đã đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 106 đăng ký ngày 11/7/2004 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, nên xác định hôn nhân giữa ông L và bà C là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Xét thấy, quá trình chung sống giữa ông L và bà C đã phát sinh mâu thuẫn với những nguyên nhân do ông L trình bày.

Bà C đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án thể hiện việc ông L yêu cầu được ly hôn với bà C tại Tòa án, nhưng bà C vẫn không có ý kiến, luôn vắng mặt, không thể hiện ý chí mong muốn đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông L. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn tình cảm giữa ông L và bà C là có thật, quan hệ hôn nhân của hai bên đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, việc ông L kiên quyết ly hôn với bà C là có cơ sở, nên chấp nhận cho ông L được ly hôn với bà C là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Ông L xác định ông và bà C không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với bà C thì bà không có văn bản phản hồi ý kiến gửi cho Tòa án xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về chia tài sản chung: Do bà C cố tình vắng mặt, không có ý kiến trình bày. Ghi nhận việc ông L xác định tự thỏa thuận về chia tài sản chung nên Tòa án không đề cập giải quyết. Nếu sau này, các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

Về nợ chung: Do bà C cố tình vắng mặt, không có ý kiến trình bày. Ghi nhận việc ông L xác định không có nợ chung, Tòa án không đề cập giải quyết, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

. Về án phí: Ông Trần Công L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 483 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Công L.

1. Về hôn nhân: Ông Trần Công L được ly hôn với bà Phan Thị Cà C.

2. Về nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung: Ông L xác định ông và bà C không có con chung, bà C không có ý kiến phản hồi nên Tòa án không xem xét giải quyết.

3. Về chia tài sản chung: Ông L xác định tự thỏa thuận, bà C không có ý kiến phản hồi nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Ông L xác định không có, bà C không có ý kiến phản hồi nên Tòa án không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Buộc ông Trần Công L phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nộp công quỹ Nhà Nước, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông L đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005714 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Ông L đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà C không phải chịu án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ