vanban.org

Bản án 71/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Mê Linh, TP. Hà Nội Tuyên án 15/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bùi Văn L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----***---
Bản án số: 71/2023/HSST
Ngày: 15/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Đăng Hội thẩm nhân dân: 1- Bà Dương Thị Kim Lan 2- Ông Kiều Xuân Mai

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Ân – Thư ký TAND huyện M.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Cao Chí – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở TAND thành phố H. Toà án nhân dân huyện M xét xử trực tuyến công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 65/2023/HSST ngày 16 tháng 05 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn L, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Xóm N, xã T, huyện L, tỉnh H. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; con ông Bùi Văn V, sinh năm 1964 và bà Bùi Thị B, sinh năm 1969; vợ Bùi Thị K, sinh năm 1996, có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân: Ngày 07/1/2020, bị TAND thị xã T, tỉnh B xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 29/9/2020 chấp hành xong hình phạt tù. (đã được xóa án tích).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do bản thân là đối tượng nghiện hút ma túy, nên trưa ngày 24/12/2022, Bùi Văn L đi xe buýt đến khu vực chợ V, huyện G, thành phố H, để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, L gặp và mua của một người đàn ông không quen biết được 01 gói ma túy Heroine, với giá 100.000đ. Sau khi mua được ma túy, L cất giấu vào trong người rồi đi nhờ xe máy của người đi đường về khu công nghiệp Q, huyện M để tìm xin việc làm. Khoảng 14h30 cùng ngày, khi L đang đi bộ đến đoạn đường 36 thuộc địa phận tổ 1, thị trấn C, huyện M thì bị tổ tuần tra Công an thị trấn C, huyện M kiểm tra phát hiện bắt giữ L đang có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Vật chứng vụ án: Thu giữ của Bùi Văn L 01 gói giấy màu trắng có chữ Hồng Hà chứa chất bột màu trắng.

Tại kết luận giám định số 8882/KL-KTHS ngày 31/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H giám định kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng có chữ Hồng Hà là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,104 gam. Qúa trình giám định, Cơ quan giám định lấy 0,010 gam làm mẫu giám định, số còn lại 0,094 gam hoàn trả Cơ quan điều tra.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Bùi Văn L tại khu vực chợ V, huyện G, thành phố H, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 62/CT-VKS-ML ngày 08 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố Bùi Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và khai nhận toàn bộ hành vi của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm luận tội đối với bị cáo đề nghị: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt Bùi Văn L từ 15 đến 18 tháng tù. Vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ do Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật.

Bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, không có ý kiến tranh luận gì khác.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến, không khiếu Nvề hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

- Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo Bùi Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, vật chứng vụ án đã được thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: Khoảng 14h30 ngày 24/12/2022, tại đoạn đường 36, thuộc tổ 1, thị trấn C, huyện M, thành phố H, Bùi Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,104 gam ma túy Heroine, mục đích để sử dụng trái phép.

Hành vi của bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, cụ thể điều luật quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;

c. Heroine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an ninh trật tự và an toàn trong xã hội. Hiện nay tệ nạn nghiện hút ma túy, mua bán trái phép các chất ma túy diễn ra rất phức tạp, gây ra nhiều hậu quả xấu trong xã hội, từ tệ nạn về ma túy là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm nguy hiểm cho xã hội, như trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng khác. Về nhân thân là người có nhân thân rất xấu, năm 2020 bị TAND thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã được xóa án tích), nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để rèn luyện trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, mà vẫn tiếp tục phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, phạm cùng loại tội về ma túy, chứng tỏ bị cáo là người chấp hành pháp luật không tốt. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm, áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo sau này. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

- Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy đã thu giữ do Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bùi Văn L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2022.

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu huỷ 0,094 gam ma túy Heroine, do Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật.

Số vật chứng trên theo biên bản giao vật chứng ngày 15/5/2023, giữa Công an huyện M và Chi cục thi hành án dân sự huyện M, thành phố H.

Án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ