vanban.org

Bản án 71/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 31/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Mua trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 26/3/2023) Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Mua trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƯỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2023/HS-ST
Ngày: 31-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hòa

2. Bà Vũ Thị Thanh Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại Hội trường UBND xã Kim Xá, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn C, sinh ngày 08/5/1979; Trú tại: Thôn H, xã K, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Phạm Thị N, sinh năm 1954; Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1982; Con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2004); Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: 01. Tại bản án số 145 ngày 24/11/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt Nguyễn Văn C 03 năm về tội Vận chuyển tiền giả theo quy định tại Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 24/10/2007 C chấp hành xong T bộ bản án

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/3/2023 đến ngày 01/4/2023 chuyển tạm giam đến nay có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Đức T, sinh ngày 02/10/1996; Trú tại: Thôn H, xã K, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972 và bà Chu Thị T, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: 0

Tiền sự: 03 tiền sự.

+ Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01 ngày 19/8/2022 của Công an xã Kim Xá xử phạt Nguyễn Đức T 1.500.000 đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện T chưa nộp số tiền trên.

+ Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02 ngày 14/9/2022 của Công an xã Kim Xá xử phạt Nguyễn Đức T 1.500.000 đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện T chưa nộp số tiền trên.

+ Tại quyết định số 357 ngày 06/10/2022 của UBND xã Kim Xá áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã đối với Nguyễn Đức T với thời hạn 03 tháng kể từ ngày 06/10/2022. Ngày 06/01/2023 T được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/3/2023 đến ngày 01/4/2023 chuyển tạm giam đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Nguyễn Văn H, sinh năm 1972; Trú tại: xã K, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt)

+ Nguyễn Thị T, sinh năm 1987; Trú tại: Xã N, huyện P, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt)

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1990; Trú tại: Thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 26/3/2023, Nguyễn Đức T nảy sinh nhu cầu muốn sử dụng ma túy heroine. Do biết Nguyễn Văn C bán ma túy nên T đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream đã cũ gắn BKS: 88L1-264.93 đi đến nhà C để tìm mua ma túy. Khi đến nơi, T gặp C đang ở nhà một mình, tại đây T hỏi C: “Anh có không để cho em cái ba”, C hiểu ý của T là muốn hỏi mua 01 gói ma túy heroine với giá 300.000đ. Do biết một người tên là B khoảng gần 50 tuổi ở thôn Đ, xã Y bán ma túy nên C nảy sinh ý định mua ma túy của B bán lại cho T để kiếm lời nên C đồng ý và bảo Toàn: “Ừ, em cứ đi cùng anh”. Sau đó, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX đã cũ gắn BKS: 88L1-043.43 đi trước, còn T điều khiển xe mô tô gắn BKS: 88L1-264.93 đi theo sau. Khi đi đến khu vực ngã ba đường nội đồng cách khu dân cư thôn Đồi Me, xã Yên Lập khoảng 100m thì cả 02 dừng xe, tại đây Toàn đưa cho C số tiền 300.000 đồng (gồm 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000đ, 01 tờ tiền polime mệnh giá 100.000đ), C cầm tiền T đưa cất vào túi quần đang mặc và bảo T đứng đợi ở đầu ngõ. C một mình đi vào nhà B thì thấy B đang ở nhà một mình. Tại đây C hỏi mua của B 01 gói ma túy heroine với giá 300.000đ, Bắc đồng ý rồi cầm tiền C đưa, điều khiển xe mô tô của C đi đâu thì C không biết. Khoảng 15 phút sau, Bắc quay lại đưa cho C 01 gói ma túy heroine được bọc bên ngoài bằng giấy tráng kim loại có mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng. Sau đó C xin B 01 mảnh giấy tráng kim loại có 01 mặt màu trắng, 01 mặt màu vàng và chia gói ma túy heroine vừa mua được của B ra làm hai phần rồi gói lại, một gói C cất vào trong ví giả da màu đen trong túi quần bên phải phía sau mục đích để bán cho các con nghiện, gói ma túy còn lại C cầm ở tay trái. Sau đó, C điều khiển xe mô tô đi ra đầu ngõ chỗ Toàn đang đứng đợi rồi đưa cho T 01 gói ma túy heroine đang cầm, T cầm gói ma túy C đưa rồi cùng C điều khiển xe mô tô đi về. Khi cả hai đi đến khu vực ngã tư đường gần chùa Linh Sơn thuộc địa phận thôn Đồi Me, xã Yên Lập thì bị lực lượng Công an huyện Vĩnh Tường phát hiện bắt quả tang C và T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu tại tay trái T đang cầm 01 gói nhỏ bọc bên ngoài bằng giấy tráng kim loại mặt bên ngoài màu trắng, mặt bên trong màu vàng, mở ra kiểm tra bên trong có chứa chất bột, cục màu trắng, T khai nhận đó là gói ma túy Heroine của T vừa mua được của C với giá 300.000đ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tang vật được niêm phong vào 01 phong bì thư đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A1.

- Thu trong túi bên phải phía trước áo mưa T đang mặc 02 bơm tiêm (không có vỏ bọc bên ngoài), 02 lọ nước cất đều còn mới, chưa qua sử dụng.

- Tạm giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream đã cũ gắn BKS: 88L1-264.93.

- Thu bên trong chiếc ví giả da màu đen đã cũ để trong túi quần bên phải phía sau C đang mặc 01 gói nhỏ bọc bên ngoài bằng giấy tráng kim loại mặt bên ngoài màu trắng, mặt bên trong màu vàng, mở ra kiểm tra bên trong có chứa chất bột, cục màu trắng, C khai nhận đó là gói ma túy heroine của C lấy 01 phần từ gói ma túy mua của B rồi bán lại bán cho T, mục đích cất giấu là để bán cho những đối tượng nghiện khác có nhu cầu mua. Tang vật được niêm phong vào 01 phong bì thư đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A2.

- Tạm giữ của C 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX đã cũ gắn BKS: 88L1-043.43.

Căn cứ hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn C, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Đức T ngày 26/3/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường ra lệnh khám xét khẩn cấp số 16, 17 tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của C, T tại thôn H, xã K, huyện V. Quá trình khám xét không phát hiện thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản gì.

Ngày 26/3/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 193 giám định mẫu vật được niêm phong ký hiệu A1, A2 gửi đến Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc để giám định xác định mẫu vật gửi giám định có phải là chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép ma túy không, loại ma túy, tiền chất gì? Khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu?

Ngày 30/3/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Bản kết luận giám định số 820/KLGĐ, kết luận:

- Mẫu chất bột cục màu trắng gửi giám định ký hiệu A1 có khối lượng 0,1265g (Không phảy một hai sáu năm gam, không kể bao bì) là ma túy loại Heroine (Heroin).

- Mẫu chất bột cục màu trắng gửi giám định ký hiệu A2 có khối lượng 0,1510g (Không phảy một năm một không gam, không kể bao bì) là ma túy loại Heroine (Heroin).

Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định, gồm: A1 = 0,0715 gam, A2 = 0,0924 gam mẫu cùng T bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy "MẪU TRẢ".

Cơ quan cảnh sát điều tra đã tống đạt kết luận giám định trên cho C và T, tất cả đều hoàn toàn nhất trí với nội dung kết quả trưng cầu giám định, không có ý kiến thắc mắc gì.

Tại bản Cáo trạng số: 80/CT-VKS-VT ngày 10 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo C về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội bị cáo C phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” và T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt C từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt T từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam các bị cáo (ngày 26/3/2023);

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận T bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, các bị cáo khai nhận:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 26/3/2023, Nguyễn Đức T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream đã cũ gắn BKS: 88L1-264.93 đến nhà Nguyễn Văn C hỏi mua 300.000đ ma túy về sử dụng. Do biết B ở thôn Đ, xã Y bán túy nên C cầm 300.000đ của T đến nhà B mua của B 01 gói ma túy giá 300.000đ. Sau đó C chia gói ma túy mua của B ra làm 02 gói, 01 gói có khối lượng 0,1510g C cất vào ví để bán cho người có nhu cầu; 01 gói có khối lượng 0,1265g C bán cho T. Sau khi bán ma túy cho T, C và T đến khu vực ngã tư đường gần chùa Linh Sơn thuộc địa phận thôn Đ, xã Y thì bị lực lượng Công an huyện Vĩnh Tường phát hiện bắt quả tang C có hành vi bán trái phép chất ma túy cho T và T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy cùng T bộ vật chứng như đã nêu ở trên.

. Xét lời nhận tội của các bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Vĩnh Phúc, phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thẩm tra tại phiên tòa.

Hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Đức T và tàng trữ trái phép chất ma túy để bán của Nguyễn Văn C nêu trên đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (loại heroine) để sử dụng cho bản thân của Nguyễn Đức T nêu trên đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

….

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện việc coi thường pháp luật vi phạm chính sách của Nhà nước về thống nhất quản lý các chất ma túy. Vì vậy, cần xử lý nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

. Xét nhân thân của các bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Bị cáo C là người có nhân thân xấu: Ngày 24/11/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 năm về tội “Vận chuyển tiền giả”. Ngày 24/10/2007 chấp hành xong T bộ bản án. Bị cáo T cũng đã có 03 tiền sự từng bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị UBND xã Kim Xá áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã đối với thời hạn 03 tháng. Nhưng C và T không lấy đó làm bài học cho bản thân, C tiếp tục thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy còn T tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Lẽ ra phải phạt các bị cáo mức án cao song quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo T có ông nội là Nguyễn Văn Q, ông ngoại là Chu Văn T được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và Huân chương kháng chiến hạng nhì.

Do vậy, Hội đồng xét xử có thể xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nhưng cần áp dụng hình phạt tù tại cơ sở giam giữ đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục cải tạo trở thành người biết chấp hành pháp luật. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ được của Nguyễn Văn C và Nguyễn Đức T, C khai mua được của một người đàn ông tên B khoảng gần 50 tuổi, người cao khoảng 1,70m, dáng người bình thường nhà ở thôn Đ, xã Y. Cơ quan điều tra đã xác minh xác định tại thôn Đồi Me, xã Yên Lập có 01 đối tượng tên là Trần Văn B, sinh năm 1978 và đã triệu tập B nhiều lần nhưng chưa làm việc được. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định pháp luật là phù hợp.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream đã cũ gắn BKS: 88L1-264.93 là của ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972, trú tại: Thôn H, xã K, huyện V (bố đẻ của T). Vào ngày 26/3/2023, T mượn chiếc xe trên của ông Hạnh để đi lại sau đó sử dụng đi mua ma túy, ông H không biết, không liên quan gì. Do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông H theo quy định. Nhận lại tài sản ông Hạnh không có ý kiến, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX đã cũ gắn BKS: 88L1-043.43 là của chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1987, trú tại thôn L, xã H, huyện P, tỉnh Hưng Yên (em gái họ của C). Cuối năm 2022, chị T đã cho C mượn chiếc xe mô tô trên để phục vụ việc đi lại của bản thân. Ngày 26/3/2023, C sử dụng chiếc xe trên để đi bán ma túy cho T thì chị T không biết, không liên quan gì. Do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T chiếc xe trên theo quy định. Nhận lại tài sản chị T không có ý kiến, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 02 bơm tiêm (không có vỏ bọc bên ngoài), 02 lọ nước cất đều còn mới, chưa qua sử dụng là tài sản của T, T đem theo với mục đích sau khi mua được ma túy của C sẽ dùng làm dụng cụ để sử dụng ma túy heroine bằng hình thức chích nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với mẫu vật A1 = 0,0715 gam, A2 = 0,0924 gam cùng T bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn trả sau giám định không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Mua trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 26/3/2023)

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 26/3/2023)

Về các vấn đề khác: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tịch thu tiêu hủy 02 bơm tiêm (không có vỏ bọc bên ngoài), 02 lọ nước cất đều còn mới, chưa qua sử dụng của T và mẫu vật hoàn trả lại sau giám định, gồm: A1 = 0,0715gam, A2 = 0,0924gam cùng T bộ bao gói.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày giữa Công an huyện Vĩnh Tường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường).

Bị cáo C và T mỗi người phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Vĩnh Tường;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- CA huyện Vĩnh Tường;

- THADS huyện Vĩnh Tường;

- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;

- Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc;

- Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;

- Bị cáo;

- Người có QLNVLQ;

Nguyễn Trường Sơn

- Lưu HS + VP; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trường Sơn

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ