vanban.org

Bản án 71/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ng V Th 01 (Một) năm tù về tội.

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 06.6.2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An và Chi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ng V Th 01 (Một) năm tù về tội.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TƢƠNG DƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2023/HS-ST
Ngày 28-6-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Cụt Xuân Ninh

Ông Lương Khăm Niên

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ng V Th, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 01 tháng 10 năm 1992 tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản C R 1, xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ng V T và con bà M Th K (Đều đã chết); vợ: L Th X: con: Có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/12/2022 đến ngày 01/01/2023. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: Bà Đ Th L.Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ, ngày 22 tháng 12 năm 2022, Ng V Th đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết đi từ nhà ở bản C R 1, xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An vào bản Đ, xã L M, huyện T D, tỉnh Nghệ An với mục đích mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, Th xuống xe rồi một mình đi bộ lên đồi gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng bao potylen màu hồng với giá 50.000 đồng. Sau khi mua Heroine xong, Th cất giấu gói ma túy trong túi áo khoác màu xanh phía trong bên phải đang mặc của Th, rồi xin đi nhờ xe máy về nhà.

Đến khoảng 11 giờ 20 phút, ngày 23/12/2022, khi Ng V Th đang ở nhà tại bản C R 1, xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an xã X L, huyện T D kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thu giữ trong túi áo khoác màu xanh phía trong bên phải của Th đang để trên đầu giường ngủ 01 gói được gói bằng Potylen màu hồng bên trong chứa chất bột màu trắng. Ng V Th khai nhận số chất bột màu trắng đó là Heroine mua về sử dụng. Tổ công tác đã lập các biên bản theo đúng quy định của pháp luật.

Tại bản Kết luận giám định số: 45 /KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 28/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An xác định: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Ng V Th gửi tới giám định là ma tuý Heroine, có khối lượng 0,12 (Không phẩy mười hai) gam.

Trong quá trình điều tra Ng V Th được điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Nghệ An được chuẩn đoán Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất dạng thuốc phiện. Ngày 10/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T D đã ra quyết định trưng cầu giám định bị can Ng V Th có bị mắc bênh tâm thần hay bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi hay không?

Tại bản Kết luận giám định số 13/KLGĐ, ngày 16/5/2023 của Phân viện pháp y tâm thần Bắc miền Trung thuộc Viện Pháp y tâm thần Trung ương kết luận:

+ Tại thời điểm trước, trong khi bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (ngày 23/12/2022), Ng V Th bị bệnh: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy và sử dụng các chất tác động tâm thần khác với hội chứng nghiện. Theo phân loại bênh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10), có mã bệnh là: F19,2;

Tại thời điểm sau khi bị bắt qua tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (ngày 23/12/2022) và tại thời điểm giám định, Ng V Th bị bệnh: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều chất ma túy và sử dụng các chất tác động tâm thần khác với hội chứng nghiện, hiện đang cai nhưng ở trong môi trường được bảo vệ. Theo phân loại bênh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10), có mã bệnh là: F19,21;

+ Tại tất cả các thời điểm đã nêu trên, bị can Ng V Th đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Bản Cáo trạng số 78/CT-VKS-TD ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T D đã truy tố Ng V Th về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Ng V Th mức án từ 01 năm đến 01 năm 3 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Ng V Th đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào 11 giờ 20 phút, ngày 23/12/2022, tại nhà riêng ở bản C R 1, xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Ng V Th đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,12 gam ma túy Heroine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T D đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với những người đàn ông Th xin đi nhờ xe để mua ma túy và người đàn ông đã bán trái phép chất ma túy cho Th. Hiện cơ quan điều ra chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ của những người này nên không có căn cứ để xử lý.

Xử lý vật chứng: 0,12g Heroine (đã lấy hết đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ng V Th 01 (Một) năm tù về tội. “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 23/12/2022 đến ngày 01/01/2023.

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 06.6.2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An);

[3] Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH bị cáo Ng V Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 28/6/2023.

Cỡ chữ