vanban.org

Bản án 71/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 23/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thào A T: 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 30 tháng 6 năm 2023. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy khối lượng: 8,18 gam Heroine và 1,98 gam Methamphetanine ( còn lại đã trừ lấy mẫu giám định) là vật chứng vụ án Thào A T. Theo biên bản … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào A Thành - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NẬM PỒ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:71/2023/HS-ST
Ngày 23 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vàng A Hý

2. Ông Hồ Chử Dung

- Thư ký phiên tòa: Lò Văn Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phùng Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Thào A T sinh ngày 01 tháng 01 năm 1983 tại xã Hồng Thu, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản Nà Bủng 2, xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thào A K sinh năm 1965 và con bà Vàng Thị D sinh năm 1965; Bị cáo Thào A T có vợ tên là Giàng Thị S sinh năm 1985. Có 4 con lớn nhất 18 tuổi, nhỏ nhất 01 tuổi. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17 tháng 9 năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 18 tháng theo số 07/2019/QĐ - TA; Chưa bị Tòa án kết tội lần nào. Bị cáo Thào A T bắt tạm giữ từ ngày 30 tháng 6 năm 2023 đến ngày 09 tháng 7 năm 2023, tạm giam từ ngày 09 tháng 7 năm 2023 đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Thào A T: Bà Lê Thị Thúy An trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên tham gia tố tụng. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 29 tháng 6 năm 2023 bị cáo Thào A T đi bộ một mình lên khu vực mốc 54 biên giới Việt Nam – Lào thuộc khu vực bản Púng Pá Kha, xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ để tìm mua ma túy về sử dụng. Vào khoảng 02 giờ ngày 30 tháng 6 năm 2023 bị cáo Thào A T gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Bị cáo Thào A T đã mua được của ông ta 02 (hai) gói Heroine và 01 (một) gói có chứa 27 viên Methamphetamine với số tiền là 1.200.000 đồng, mua bán xong người đàn ông đó đi đâu bị cáo không biết, còn bị cáo Thào A T cất giấu vào trong túi quần đang mặc và đi bộ về nhà. Đến khoảng 07 giờ ngày 30 tháng 6 năm 2023 bị tổ công tác Công an xã Nà Bủng và Đồn biên phòng Nà Bủng phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án và đưa về Công an huyện Nậm Pồ để làm rõ.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023 Công an huyện Nậm Pồ cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, khối lượng Heroine thu giữ của Thào A Thành là 9,32 gam; khối lượng Methamphetamine thu giữ của Thào A T là 2,5 gam.

Bản kết luận giám định số: 1106/KL-KTHS ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Thào A T gồm 9,32 gam chất bột màu trắng đục; 2,5 gam các viên nén màu hồng.

- 02 (hai) mẫu chất bột màu trắng đục trích ra từ vật chứng thu giữ của Thào A Thành gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.

- Mẫu các viên nén mầu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Thào A T gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số: 43/CT-VKSNP ngày 01 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ đã truy tố Thào A T để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249 BLHS; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Thào A T từ 06 (sáu) năm tù đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án. Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Thào A T không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố cũng như phần luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đề nghị HĐXX xem xét đến điều kiện sinh sống của bị cáo dẫn đến nhận thức pháp luật có phần hạn chế; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xem xét xử phạt cho bị cáo Thào A T mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; đề nghị không áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 5 Điều 249 BLHS về hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí, đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung truy tố trong Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Thào A T nhất trí với lời bào chữa và không có ý kiến bổ sung; không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi phạm tội bị cáo thấy: Lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 02 giờ ngày 30 tháng 6 năm 2023 bị cáo Thào A T đi đến mốc 54 biên giới Việt Nam – Lào thuộc khu vực bản Púng Pá Kha, xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ thì gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Bị cáo Thào A T đã mua được của ông ta 02 (hai) gói Heroine và 01 (một) gói có chứa 27 viên Methamphetamine với số tiền là 1.200.000 đồng, mua bán xong người đàn ông đó đi đâu bị cáo không biết, còn bị cáo Thào A T cất giấu vào trong túi quần đang mặc và đi bộ về nhà. Mục đích mua để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 07 giờ ngày 30 tháng 6 năm 2023 bị tổ công tác Công an xã Nà Bủng và Đồn biên phòng Nà Bủng phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận bị cáo Thào A T đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 BLHS.

Việc VKSND huyện Nậm Pồ truy tố bị cáo Thào A T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, bị cáo không bị oan sai. Tổng khối lượng 02 (hai) chất ma túy là 11,82 gam.

Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo thấy: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thấy: Ngày 17 tháng 9 năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 18 tháng theo số 07/2019/QĐ - TA; Chưa bị Tòa án kết tội lần nào.

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Thào A T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.

Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Thào A T từ 06 (sáu) năm tù đến 06 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xem xét xử phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng theo khoản 1 Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện Kiểm sát. HĐXX xét thấy việc đề nghị của người bào chữa là phù hợp nên được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế

- xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, người bào chữa về việc không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông bán Heroine và Methamphetamine cho bị cáo; do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu do đó không có cơ sở để xử lý trong vụ án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy khối lượng: 8,18 gam Heroine và 1,98 gam Methamphetanine còn lại đã trừ lấy mẫu giám định.

Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Có giấy chứng nhận hộ nghèo do UBND xã Nà Bủng cấp. Ngày 09 tháng 8 năm 2023 bị cáo Thào A T đã có đơn đề nghị miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; HĐXX quyết định miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát; Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không khiếu nại hoặc ý kiến gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thào A T: 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 30 tháng 6 năm 2023.

3.Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy khối lượng: 8,18 gam Heroine và 1,98 gam Methamphetanine ( còn lại đã trừ lấy mẫu giám định) là vật chứng vụ án Thào A T. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 8 năm 2023 giữa Công an huyện Nậm Pồ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nậm Pồ.

4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo Thào A T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 23 tháng 8 năm 2023).

Cỡ chữ