vanban.org

Bản án 71/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 23/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo LVN phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo LVN 38 (ba mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/02/2023. Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LVN phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo LVN phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 71/2023/HS-ST
Ngày 23-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Thúy.

Bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thiều - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

LVN, sinh ngày 16/01/1991, tại MC, Mường La, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản NU, xã MC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông LVL, sinh năm 1960 và con bà LTP, sinh năm 1963; có vợ LTX, sinh năm 1994, có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: LVN. Địa chỉ: Bản NU, xã MC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo LVN bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 19/02/2023, tại tiểu khu 3, thị trấn Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang LVN, sinh ngày 16/01/1991, ở bản NU, MC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ do LVN tự giác lấy từ trong tay bên phải giao nộp:

01 bao thuốc lá nhãn hiệu thăng long bên trong có chứa:

01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng và 09 viên nén màu hồng hình tròn trên mặt đều có chữ WY, LVN khai là Heroine và hồng phiến để sử dụng;

01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, màu xanh trắng, biển kiểm soát 26B1-993.89 của LVN, do LVN chở LVN.

Ngày 19/02/2023 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:

Vật chứng thu giữ do LVN tự giác giao nộp:

01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,80 gam lấy 0,16 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu NN1;

09 viên nén màu hồng có khối lượng 0,86 gam lấy 0,38 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu NN2;

Cơ quan Công an huyện Mường La ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 425/KL-KTHS ngày 22/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

Mẫu ký hiệu NN1 là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,16 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,80 gam Heroine;

Mẫu ký hiệu NN2 là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định là 0,38 gam, khối lượng ma túy thu giữ là 0,86 gam Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,80 gam Heroine và 0,86 gam Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo LVN không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Quá trình điều tra LVN khai nhận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 19/02/2023 LVN đi từ nhà đến tiểu khu 2, xã Mường Bú, huyện Mường La tại đây gặp và mua của một người đàn ông không biết tên và địa chỉ 01 gói Heroine và 09 viên hồng phiến với giá 700.000, đồng cất giấu trong vỏ bao thuốc lá thăng long, mục đích để sử dụng, đi đến khu vực ngã ba Mường Bú thì gặp LVN người cùng bản có xe máy đang chờ lấy đồ, LVN nhờ chở vào trung tâm huyện Mường La. Hai người đi đến khu vực bản Két, xã Tạ Bú, huyện Mường La. LVN rủ LVN sử dụng ma túy. Hai người lấy một ít Heroine vào bụi cây sử dụng (hít), sau đó đi đến khi vực tiểu khu 3, thị trấn Ít Ong, huyện Mường La thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

2

Về nguồn gốc ma túy LVN khai mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ với số tiền 700.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của LVN.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo LVN đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bản cáo trạng số: 45/CT-VKS-ML ngày 11 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo LVN về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo LVN phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt LVN từ 30 đến 36 tháng tù;

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ:

01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long; 0,64 gam Heroine; 0,48 gam Methamphetamine (đều được niêm phong).

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, màu xanh trắng, biển kiểm soát 26B1-993.89 của LVN, cơ quan Công an đã trả lại cho LVN.

Đối với LVN qua điều tra xác định không biết việc LVN mua và tàng trữ ma túy, nên không xử lý đối với LVN.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

3

. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan LVN đã nhận được đủ tài sản, có đề nghị xử vắng mặt, sự vắng mặt không ảnh hưởng đến giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt họ vẫn đảm bảo quyền lợi của họ.

. Bị cáo LVN thừa nhận: Hồi 19 giờ 30 phút ngày 19/02/2023, tại tiểu khu 3, thị trấn Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,80 gam và Methamphetamine có khối lượng 0,86 gam, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Do LVN cất giữ hai chất ma túy, cần căn cứ Điều 4 của Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018, để tính tổng khối lượng của hai chất như sau: Số Methamphetamine có khối lượng 0,86 gam + số Heroine có khối lượng 0,80 gam = 1,66 gam ma túy, nên thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định, lời khai của người liên quan.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: LVN đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51

4

của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về vật chứng và việc liên quan:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ:

01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long; 0,64 gam Heroine; 0,48 gam Methamphetamine (đều được niêm phong).

Chấp nhận cơ quan Công an đã trả lại cho LVN: 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, màu xanh trắng, biển kiểm soát 26B1-993.89, do không liên quan đến việc phạm tội.

Đối với việc LVN dùng xe chở LVN, qua điều tra xác định không biết việc LVN mua và tàng trữ ma túy, nên cơ quan Công an không xử lý đối với LVN, cần chấp nhận.

Về nguồn gốc ma túy LVN khai mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ với số tiền 700.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của LVN, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo LVN phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo LVN 38 (ba mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/02/2023.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long; 0,64 (không phẩy sáu mươi tư) gam Heroine; 0,48 (không phẩy bốn mươi tám) gam Methamphetamine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 19/02/2023). Theo biên bản giao nhận vật chứng cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

5

Chấp nhận cơ quan Công an đã trả lại cho LVN: 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, màu xanh trắng, biển kiểm soát 26B1-993.89.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo LVN phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 23/5/2023. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan LVN được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ