- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Viết T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Viết Tphạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2023/HS-ST Ngày: 19 - 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Nhật Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ba.
Bà Lý Thị Bạch Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đồng – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm hình thức trực tuyến công khai tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành gồm Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án. Điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ công an huyện Long Thành gồm: Bị cáo, Thư ký, Cán bộ chiến sỹ thuộc nơi giam giữ đối với vụ án hình sự thụ lý số: 78/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2023/QĐXXST-HS ngày 05/5/2023 và thông báo thay đổi thời gian xét xử số 906/2023/TB-TA ngày 18/5/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Viết T(tên gọi khác: không), sinh năm 1989 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp A, xã B, huyện LT, tỉnh ĐN.; Nơi sinh sống: Ấp A, xã B, huyện LT, tỉnh ĐN.; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Viết T1, sinh năm 1968 và bà Cao Thị N, sinh năm 1968; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ tên là Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và có 01 con chung, sinh năm 2012 và vợ Phạm Vân A, sinh năm 1994 (đã ly hôn) và có 01 con chung, sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2023, chuyển tạm giam từ ngày 06/02/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành.
Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Viết T là người nghiện ma túy. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27/01/2023 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T đã liên hệ với người phụ nữ tên S để mua ma túy sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày S điều khiển xe mô tô hiệu Wave đến nhà T ở ấp 5, An Phước chở T đến trước cửa quán bida 2AM S giao cho T một túi nylon kích thước 1,5cm x 02cm bên trong có chứa ma túy đưa cho T và T đưa cho S số tiền 300.000 đồng rồi S đi về, T cất ma túy vào hộp tai nghe rồi bỏ vào túi áo sau đó vào quán bida 2AM chơi khoảng 10 phút thì đi bộ về đến trước cổng nghĩa trang khu Kim Sơn, thị trấn Long Thành thì bị tổ tuần tra Công an thị trấn Long Thành trên đường đi tuần tra phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 168/KL-KTHS ngày 03/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
- Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,2607 gam loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ: 01 gói niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau giám định số 168/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh Đồng Nai và 01 điện thoại di động hiệu Realme thu giữ của T.
Trước Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành, bị cáo Trần Viết Tkhai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các T liệu chứng cứ thu thập được tại hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 73/CT-VKSLT ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Trần Viết Tvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo T từ 16 tháng đến 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau giám định số 168/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các quyết định, hành vi tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều được thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Lúc 20 giờ 30 phút, ngày 27/01/2023 tại khu vực nghĩa trang khu Kim Sơn thuộc tổ 6, khu Kim Sơn, thị trấn Long Thành, bị cáo T có hành vi tàng trữ 01 gói nylon kích thước 1,5cm x 2cm bên trong có chứa ma túy, mục đích tàng trữ để sử dụng thì bị lực lượng chức năng phát hiện và lập biên bản phạm tội quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 168/KL-KTHS ngày 03/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,2607 gam loại Methamphetamine, bị cáo thống nhất và không có ý kiến thắc mắc gì với kết luận giám định.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như lời khai của người làm chứng và những T liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ căn cứ để xác định bị cáo Trần Viết Tđã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự, biết rõ các hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy đều bị nghiêm cấm. Nhưng chỉ vì nhu cầu sử dụng của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật, mua ma túy về tàng trữ để sử dụng. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống của bị cáo và những người xung quanh, là một trong những nguyên nhân dẫn đến gia tăng các loại tội phạm, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm nhằm giáo dục bị cáo trở thành người tốt và cũng để răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong số 168/KL-KTHS ngày 03/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu thông nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Realme của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo là đúng quy định pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ theo quy định.
Đối với người phụ nữ tên S có hành vi bán ma túy cho T nhưng hiện không rõ nhân thân lai lịch. Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục điều tra xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Viết Tphạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Viết T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/01/2023.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong có chứa ma túy sau giám định được niêm phong số 168/KL-KTHS ngày 03/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2023 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành).
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về án phí: Bị cáo Trần Viết T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai. - VKSND H. Long Thành; - Chi cục THA H. Long Thành; - CAH. Long Thành; - Bị cáo; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Nhật Lệ |