vanban.org

Bản án 71/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 23/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Phương N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt chính: Xử phạt Bùi Phương N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Họ và tên: Bùi Phương N, sinh năm 1990; Giới tính: N; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên…"
  • Tòa quyết gì? Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2023/HS-ST
Ngày: 23 - 5 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Việt Hưng

Bà: Đinh Thị Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Huy Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2023/TLST-HS, ngày 28/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-HS ngày 11/5/2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Phương N, sinh năm 1990; Giới tính: N; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Bùi Huy D, con bà: Đinh Thị L (Đã chết); Có vợ: Phan Thị C và có 01 con, sinh năm 2014; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa)

- Người chứng kiến:

Ông Lã Văn L, sinh năm 1964.

Trú tại: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 40 phút ngày 04/02/2023, tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã P, huyện Đ phát hiện bắt quả tang Bùi Phương N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu vực Xóm Đ, xã P. Tổ công tác kiểm tra phát hiện tại túi quần phía bên phải N đang mặc có 01 gói chất bột màu trắng, được gói bằng giấy bạc màu vàng (N khai đây là chất ma túy, loại Heroine của N mục đích để sử dụng cho bản thân). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, được niêm phong vào phong bì ký hiệu N; 01 căn cước công dân, mang tên Bùi Phương N.

Hồi 20 giờ 30 phút, ngày 04/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật đối với Bùi Phương N. Kết quả khám xét không thu giữ gì.

Hồi 17 giờ 40 phút, ngày 04/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Bùi Phương N (trong phong bì ký hiệu N) có tổng khối lượng là 0,182 gam, lấy toàn bộ chất bột màu trắng niêm phong vào phong bì ký hiệu N1, gửi giám định.

Tại kết luận giám định số 372/KL-KTHS ngày 12/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu N1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,182 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Phương N khai nhận như sau: Bản thân N là người nghiện ma túy nên khoảng 10 giờ 00 phút ngày 04/02/2023, N một mình đi bộ đến khu vực đầu cầu treo thuộc địa phận xóm R, xã B, huyện Đ mua được của người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng với giá 100.000 đồng. Mua được Heroine, N cất vào túi quần phía bên phải đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng ma tuý. Khi đi đến khu vực Xóm Đ, xã P, huyện Đ chưa kịp sử dụng ma tuý thì bị tổ công tác Công an xã P phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Phương N khai nhận rõ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra và bản cáo trạng nêu trên.

Bản cáo trạng số 63/CT-VKSĐT, ngày 26/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Bùi Phương N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

2

Tại phiên tòa sơ thẩm, trong phần tranh luận vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ đã trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Phương N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Phương N từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; về xử lý vật chứng cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu, trả lại cho bị cáo N 01 căn cước công dân mang tên Bùi Phương N. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội. Lời nói sau cùng bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm có cơ hội được trở về với gia đình làm công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ; Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ; Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo thừa nhận do nghiện ma tuý nên đã tàng trữ ma tuý trong người để sử dụng cho bản thân không bán lại cho ai, không nhằm mục đích gì khác. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng ma túy, kết luận giám định, phù hợp với lời khai người tham gia tố tụng khác cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

3

Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 04/02/2023 tại Xóm Đ, xã P, huyện Đ, Bùi Phương N có hành vi tàng trữ 0,182 gam chất ma tuý, loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an xã P phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thực sự thành khẩn khai báo. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Do đó, căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như tính chất, mức độ của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy cần có một mức án tương xứng với tội trạng mà bị cáo gây ra và cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

4

[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xác minh lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:

Đối với vật chứng là số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được niêm phong trong các phong bì ký hiệu N1, N2, xét thấy đây là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) căn cước công dân mang tên Bùi Phương N cần trả lại cho bị cáo N quản lý, sử dụng.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam bị cáo Bùi Phương N với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Về nguồn gốc số ma túy Heroine: N khai nhận mua của 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực đầu cầu treo thuộc địa phận xóm R, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Do không xác định được lai lịch của người đàn ông này, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không có căn cứ để điều tra xử lý.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

5

Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Phương N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt chính: Xử phạt Bùi Phương N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/02/2023.

3. Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Quyết định tạm giam bị cáo Bùi Phương N với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

4. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu N1 còn nguyên tình trạng niêm phong, trên mép dán niêm phong có họ tên, chữ ký của thành phần tham gia và đóng 03 dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên và 01 (một) bì niêm phong ký hiệu N2 còn nguyên tình trạng niêm phong, trên mép dán niêm phong có họ tên, chữ ký của thành phần tham gia và đóng 03 dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ.

Trả lại bị cáo Bùi Phương N: 01 (một) căn cước công dân số 019090007724 mang tên Bùi Phương N cấp ngày 15/8/2022 tại Cục CSQLHC về TTXH-BCA.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/4/2023 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Phương N.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo (Bùi Phương N), báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ