vanban.org

Bản án 71/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 18/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân P phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: 1. Xử phạt bị cáo Đinh Xuân P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 15/6/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Xuân P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân P phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2023/HS-ST
Ngày 18-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đình Đông.

Ông Nguyễn Trọng Khánh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2023/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Đinh Xuân P, sinh ngày 23 tháng 8 năm 1993 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu L, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Mạnh U và bà Nguyễn Thị T; vợ: Vũ Thị Thu O; con: Có 02 con; tiền án; tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 01/4/2009, bị cáo bị Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt cảnh cáo về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đã được xóa tiền sự; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/10/2022, tạm giam từ ngày 24/10/2022 đến nay; có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Lương Ngọc H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/6/2023, tổ công tác Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu N, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Đinh Xuân P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời điểm kiểm tra tổ công tác phát hiện bên trong lòng bàn tay trái của Đinh Xuân P có 01 túi nilon trong suốt, bên trong có 01 viên nén màu hồng, trên mặt có chữ WY và các chất tinh thể màu trắng. Sau đó, tổ công tác đưa Đinh Xuân P cùng tang vật về trụ sở Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số: 663/KL-KTHS ngày 17/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: 01 (một) viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,195 gam (đã trừ bì).

Tại Cơ quan điều tra, Đinh Xuân P khai nhận: Bản thân sử dụng chất ma túy tổng hợp từ khoảng tháng 4 năm 2023 đến trước khi bị bắt. Do có nhu cầu sử dụng nên khoảng 12 giờ ngày 15/6/2023, Đinh Xuân P đi bộ từ nhà đến khu vực cầu vượt thuộc khu D, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để gặp một người đàn ông làm nghề xe ôm (không rõ tên, địa chỉ cụ thể) và hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy tổng hợp. Người đàn ông này đồng ý bán và đưa cho Đinh Xuân P 01 gói nhỏ nilon trong suốt, bên trong có 01 viên ma túy tổng hợp màu hồng, dạng ma túy ngựa và ma túy tổng hợp dạng đá. Sau đó, Đinh Xuân P cho số ma túy mua được vào túi quần đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi về đến khu N, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an yêu cầu kiểm tra. Đinh Xuân P đã lấy số ma túy từ trong túi quần ra, cầm trên tay trái thì bị bắt quả tang như đã nêu trên.

Cáo trạng số: 67/CT-VKS ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Đinh Xuân P về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Đinh Xuân P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn trình bày luận tội, phân tích tính chất mức độ, nguyên nhân, mục đích phạm tội của bị cáo, xác định các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Khẳng định, Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân P phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là người nghiện ma túy nên không đề nghị xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị:

Tịch thu, tiêu hủy số ma túy đã qua giám định còn lại là 0,133 gam Methamphetamine được đựng trong 01 (một) gói giấy được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong dán kín có chữ "QUẢ TANG ĐINH XUÂN P" (cũ), có chữ ký cùng tên của Giám định viên Hoàng Đình Chiến, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với bản luận tội và không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng, giải thích hướng dẫn bị cáo về quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý, quyền nhờ người bào chữa theo quy định. Các quyết định, hành vi tố tụng đã được thực hiện là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng.

Về thủ tục tố tụng: Người chứng kiến ông Lương Ngọc H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của ông Lương Ngọc H. Xét thấy, việc vắng mặt của ông Lương Ngọc H không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ căn cứ xác định: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/6/2023, Tổ công tác Công an huyện Cao Lộc làm nhiệm vụ tại khu N, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang bị cáo Đinh Xuân P có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ của Đinh Xuân P 0,195 gam ma túy Methamphetamine. Bị cáo khai nhận mua số ma túy trên về mục đích sử dụng cho bản thân. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đinh Xuân P phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, khi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, có đủ khả năng để nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo nghiện chất ma túy nên vẫn cố ý thực hiện. Chúng ta đều biết ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm do Nhà nước độc quyền quản lý, ma túy gây tổn hại về mặt kinh tế của gia đình và bản thân người sử dụng, gây hủy hoại sức khỏe của con người. Ma túy là nguyên nhân phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự, an ninh chính trị tại địa phương, gây nỗi bất bình trong quần chúng nhân dân. Hiện nay, việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Chính vì vậy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh đúng theo pháp luật nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Để quyết định mức án phù hợp ngoài việc xem xét về hành vi phạm tội nêu trên. Hội đồng xét xử còn xem xét, đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như sau:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố bị cáo là ông Đinh Mạnh U được Ban chấp hành Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam tặng Kỷ niệm chương, Ban binh chủng thông tin liên lạc tặng Kỷ niệm chương vì đã có nhiều cống hiến xây dựng Binh chủng thông tin liên lạc; bị cáo đóng góp tiền ủng hộ quỹ nhân đạo của huyện Cao Lộc, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng". Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo làm nghề lao động tự do thu nhập không ổn định, bị cáo không có tài sản gì riêng có giá trị và là người nghiện ma túy. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử thấy: Đối với số ma túy đã qua giám định còn lại là 0,133 gam Methamphetamine được đựng trong 01 (một) gói giấy được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong dán kín có chữ "QUẢ TANG ĐINH XUÂN P" (cũ), có chữ ký cùng tên của Giám định viên Hoàng Đình Chiến, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành. Cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với người đàn ông làm nghề xe ôm bán ma túy cho bị cáo Đinh Xuân P: Do không rõ lai lịch và đặc điểm cụ thể, ngoài lời khai của bị cáo Đinh Xuân P không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác minh làm rõ. Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa về mức hình phạt của bị cáo là phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 293; Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân P phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Đinh Xuân P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 15/6/2023.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu, tiêu hủy số ma túy đã qua giám định còn lại là 0,133 gam Methamphetamine được đựng trong 01 (một) gói giấy được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong dán kín có chữ "QUẢ TANG ĐINH XUÂN P" (cũ), có chữ ký cùng tên của Giám định viên Hoàng Đình Chiến, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới.

(Vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/8/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).

4. Về án phí: Bị cáo Đinh Xuân P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ