vanban.org

Bản án 71/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: chị Ngô Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Hoài P. Về con chung: giao cháu Nguyễn Hoài P1, sinh ngày 17/10/2018 cho chị Ngô Thị Thu H tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh Nguyễn Hoài P không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Thu H yêu cầu ly hôn với ông P"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỐT NỐT
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28-7-2023
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Khúc Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Viết Ngoan

2/ Bà Thái Ánh Trinh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 126/2023/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2023/QĐXX-ST ngày 26 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 156/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Ngô Thị Thu H, sinh năm 2000, đề nghị vắng mặt

Địa chỉ: C ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn: anh Nguyễn Hoài P, sinh năm 1991, vắng mặt lần 2 không lý do

Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày và yêu cầu như sau:

Chị và anh P tiến tới hôn nhân thông qua quen biết vào năm 2015, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 15/02/2019. C sống hạnh phúc đến tháng 6/2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do anh P không lo làm ăn phụ giúp kinh tế gia đình, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Thời gian ly thân mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm ai, không ai liên hệ hàn gắn.

Về tình cảm đối với anh P không còn nữa nên xin ly hôn.

Về con chung: có 01 con chung Nguyễn Hoài P1, sinh ngày 17/10/2018. Từ khi sống ly thân cháu P1 do chị trực tiếp nuôi dưỡng, anh P không có tới lui thăm con. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi dưỡng cháu P1 đến khi thành niên, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, riêng, nợ: không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn quá trình giải quyết dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh P.

Để giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh P. Tại biên bản xác minh ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, địa phương cho biết chị H và anh P là vợ chồng có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Hoài P1. Nguyên nhân ly hôn không rõ. Anh P vẫn còn đăng ký thường trú tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Anh P đã đi làm xa và có về nhà.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: chị Ngô Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Hoài P; Về con: giao cháu Nguyễn Hoài P1, sinh ngày 17/10/2018 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, riêng và nợ: đương sự không yêu cầu, không đặt vấn đề giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

[1] Về tố tụng: theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đây là vụ án về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Nguyễn Hoài P có nơi cư trú tại: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị H có đơn đề nghị vắng mặt, bị đơn anh P vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị H và anh P là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Về nguyên nhân dẫn đến ly hôn chị H cho rằng do bất đồng quan điểm, anh P không lo làm ăn phụ giúp kinh tế gia đình. Quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh P nhiều lần để tham gia tố tụng về yêu cầu xin ly hôn của chị H, nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu của chị H. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh P đã trầm trọng, cuộc sống chung đã không còn tồn tại vì đã ly thân từ tháng 6/2022 đến nay, không ai quan tâm ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị H được ly hôn với anh P.

Về con chung: theo lời khai của chị H và kết quả xác minh của Tòa án, chị H và anh P có 01 con chung cháu Nguyễn Hoài P1, sinh ngày 17/10/2018. Thời gian ly thân cháu P1 sống với chị H, khi ly hôn chị yêu cầu nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Do đó, cần tiếp tục giao cháu P1 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Đương sự không yêu cầu nên không đặt vấn đề giải quyết.

Về tài sản chung, riêng và nợ: đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: nguyên đơn phải nộp theo quy định.

Lời phát biểu của kiểm sát viên về phần thủ tục tố tụng, cũng như đề xuất ý kiến về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định và quyết định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, 227, 228, Điều 235, 238, 262, 264, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 51, 53, 56, 57, 59, 69, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: chị Ngô Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Hoài P.

Về con chung: giao cháu Nguyễn Hoài P1, sinh ngày 17/10/2018 cho chị Ngô Thị Thu H tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh Nguyễn Hoài P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh Nguyễn Hoài P, không ai được cản trở anh P thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, riêng và nợ: đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Ngô Thị Thu H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được chuyển từ số tiền tạm nộp án phí sang án phí đã nộp theo biên lai số 0003927 ngày 24/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Cỡ chữ