vanban.org

Bản án 71/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn V.

Về quan hệ hôn nhân: cho chị Nguyễn V và anh Nguyễn K được ly hôn. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 29/10/2009 cho chị V tiếp tục, trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời chị V chưa yêu cầu anh Nguyễn K cấp dưỡng nuôi con. Vì không trực tiếp nuôi con nên anh N… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn V.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quang Phúc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Việt

2. Ông Nguyễn Thành Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Việt Dũng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 364/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 105/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn V, sinh năm 1991; CCCD số xxx xxx xxx xxx cấp ngày 10/5/2021.

Địa chỉ: 30/1G, ấp VD, xã K, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn K, sinh năm 1987

Địa chỉ: H3/14, ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Chị V, anh K vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh K tự nguyện tìm hiểu và và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quang Trung vào ngày 20/10/2009. Đây là lần đăng ký kết hôn lần đầu của chị V.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm và lối sống, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Anh K có tính gia trưởng, thường xuyên đánh đập vợ con. Năm 2013, anh K vi phạm pháp luật nên phải đi chấp hành án phạt tù, sau khi anh K đi chấp hành án thì chị V đã chuyển về nhà cha mẹ ruột của chị V để sinh sống, sau khi anh K chấp hành án trở về đến nay giữa chị V và anh K đã không còn chung sống với nhau, giữa chị V và anh K đã không còn dành tình cảm cho nhau. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị V yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn K.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 29/10/2009. Khi ly hôn, chị Nguyễn V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con.Tạm thời chị V không yêu cầu anh Nguyễn K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Theo chị V trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Nguyễn K đến Tòa làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nguyễn K vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện theo đúng quy định.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 105/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2023, nhưng anh Nguyễn K vắng mặt không lý do, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị V, anh K.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị V. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 29/10/2009 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh K không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không đặt ra giải quyết. Chị V phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”; bị đơn đang cư trú tại tổ H3/14, ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự:

Ngày 07/9/2023, nguyên đơn chị Nguyễn V gửi đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Tòa án đã tiến hành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023, thông báo cho bị đơn anh Nguyễn K biết phải có mặt tại Tòa án vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 20/9/2023, để tham gia phiên tòa, anh K vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa. Ngày 20/9/2023, Tòa án tống đạt quyết định hoãn phiên tòa số 105/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2023 thông báo cho anh K phải có mặt tại Tòa án vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 30/9/2023 đề tham gia phiên tòa, anh K tiếp tục vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự giải quyết vụ án theo thủ tục chung, xử vắng mặt chị V, anh K.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn V và anh Nguyễn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân xã Quang Trung, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 164 ngày 20/10/2009 nên áp dụng Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Theo chị V trình bày sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian rồi bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm và lối sống, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Anh K có tính gia trưởng, thường xuyên đánh đập vợ con. Từ năm 2013 đến nay chị V và anh K đã không còn chung sống với nhau nên vợ chồng đã không còn tình cảm, không ai muốn hàn gắn chung sống với nhau. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Nguyễn K đến Tòa làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh K nhưng anh K vẫn vắng mặt, cho thấy anh K không muốn níu kéo cuộc hôn nhân này. Mặt khác, theo Biên bản ghi lời khai của bà Trần Thị Xuyến là mẹ ruột của anh K và bà Nguyễn Thị Soi là mẹ ruột của chị V đều khảng định anh K và chị V quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn và từ năm 2013 đến nay chị V và anh K đã không còn sống chung với nhau.

Xét thấy mâu thuẫn giữa chị V và anh K đã thật sự trầm trọng, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc việc chị V xin ly hôn với anh K là có cơ sở. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn V.

Về con chung: Trong quá trình sống chung chị V và anh K có 01 (một) con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 29/10/2009. Khi ly hôn chị V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 29/10/2009, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là trách nhiệm của cha mẹ. Quá trình giải quyết vụ án, anh K đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc, qua tham khảo nguyện vọng của cháu Khang là được ở với mẹ và hiện tại cháu đang do chị V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định và tạo điều kiện phát triển về mọi mặt của cháu Khang nên tiếp tục giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 29/10/2009 cho chị Nguyễn V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Tạm thời anh K không cấp dưỡng nuôi con chung do chị V không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, chị V, anh K vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con. Anh K có quyền thăm nom con, không ai được cản trở thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Theo chị V, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bị đơn vắng mặt chưa có lời khai về tài sản chung, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Theo chị V trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bị đơn vắng mặt chưa có lời khai về nợ chung, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị V phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn V.

1. Về quan hệ hôn nhân: cho chị Nguyễn V và anh Nguyễn K được ly hôn.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 29/10/2009 cho chị V tiếp tục, trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời chị V chưa yêu cầu anh Nguyễn K cấp dưỡng nuôi con. Vì không trực tiếp nuôi con nên anh Nguyễn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

5. Về án phí: Chị Nguyễn V phải chịu tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0009427 ngày 12/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, chi Vân đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ