- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu C.
- Căn cứ chính? Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự các đương sự; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự các đương sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2023/DS-ST. Ngày: 30/6/2023 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Hanh
Ông Nguyễn Xuân Hoàng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Hạnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30/6/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2023/TLST-DS ngày 16/02/2023về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXXST-DS ngày 10/5/2023 của tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu C, sinh năm 1969( có mặt)
Địa chỉ: thôn Mai Hạ, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Ông Nguyễn Như T, sinh năm 1955. Nơi cư trú tại: Tổ dân phố Phúc Thắng, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (có mặt)
Bị đơn: Anh Lê Tuấn H, sinh năm 1982( vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Mai Hạ, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Thuỷ, sinh năm 1971.
Nơi cư trú: Thôn Mai Hạ, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị T có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Hữu C do ông Nguyễn Như T là đại diện theo uỷ quyềntrình bày: Ông C và anh H có mối quan hệ là hàng xóm láng giềng với nhau. Vì vậy, khi anh H có nhu cầu cần tiền có đến nhà và hỏi vay tiền của ông C. Ngày 20/10/2016 ông C có cho anh H vay số tiền gốc là 20.000.000 đồng. Khi vay anh H có viết và ký vào giấy xác nhận nợ với ông C. Theo đó anh H xác nhận vay của ông C số tiền là 20.000.000 đồng. Thời hạn vay không ghi rõ. Trong giấy vay nợ không thể hiện lãi nhưng trên thực tế hai bên có thỏa thuận miệng là lãi suất là 1%/tháng.
Hết thời hạn trả nợ, mặc dù ông C đã đòi nhiều lần nhưng anh H không trả được ông C tiền nợ gốc và nợ lãi. Nay ông C khởi kiện, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa buộc anh Lê Tuấn H phải trả cho vợ chồng ông C số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng và tiền nợ lãi theo mức lãi suất là 1%/tháng từ 20/10/2016 đến nay là 14.000.000 đồng. Tổng cả gốc và lãi lài 34.000.000 đồng. Tại phiên toà ông C thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu anh H trả số tiền gốc là 20.000.000đồng và rút yêu cầu về việc tính lãi.
Bị đơn là anh H đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến tòa án làm việc và không gửi văn bản, ý kiến đến tòa án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Thuỷ trình bày: bà là vợ của ông C. Bà có viết việc ông C cho anh H vay tiền số tiền là 20.000.000 đồng. Nay ông C khởi kiện đòi anh H số tiền nợ gốc và tiền lãi bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông. Bà xác định đây là tài sản chung của vợ chồng và đề nghị tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn; và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định pháp luật. bị đơn chưa chấp hành đúng quy định pháp luật.
Về ý kiến giải quyết vụ án:
Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 244; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự ;
Áp dụng các Điều 463; 466; khoản 2 Điều 357; 468; 469; 688 Bộ luật Dân sự; Điều 27; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu C.
Buộc anh Lê Tuấn H có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông Nguyễn Hữu C và bà Nguyễn Thị T số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng),
Về án phí: Anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ do ông C đã nộp hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đầy đủ, đúng pháp luật.
[1.2] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào các giấy tờ do ông C giao nộp, lời khai của các đương sự và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử xét thấy ông Nguyễn Hữu C khởi kiện yêu cầu anh Lê Tuấn H thanh toán số tiền còn nợ là 20.000.000đồng là tranh chấp hợp đồng vay tài sản quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Lê Tuấn H là bị đơn đang cư trú trên địa bàn huyện Hiệp Hòa vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn là anh Lê Tuấn H nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt họ.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn: Qua lời khai của các đương sự, các tài liệu chứng cứ do các bên xuất trình và tại phiên tòa Hội đồng xét xử thấy: Do mối quan hệ là hàng xóm nên ông C đã cho anh H vay số tiền 20.000.000đồng, có giấy biên nhận vay tiền ngày 20/10/2016. Quá trình vay nợ anh H chưa trả được cho ông C số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng mặc dù ông C đã tiến hành đòi nhiều lần. Việc anh H không trả tiền cho ông C là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Anh H đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa và không gửi văn bản ý kiến đến tòa án. Điều đó thể hiện anh H đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình, không chấp hành pháp luật. Vì vậy, ông C khởi kiện yêu cầu tòa án buộc anh H phải có nghĩa vụ trả cho ông C, bà T số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng là có căn cứ nên cần được được chấp nhận.
[3] Về lãi xuất: Tại phiên toà ông C và ông T là người đại diện theo uỷ quyền của ông C đồng ý rút yêu cầu về việc tính lãi. Việc rút yêu cầu là sự tự nguyện của đương sự nên cần áp dụng điều 217; 244 bộ luật tố tụng dân sự để đình chỉ đối với yêu cầu về việc tính lãi của ông C với anh H.
[5] Về án phí: Do yêu cầu của ông C được chấp nhận nên bị đơn anh H phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 217; Điều 227; Điều 228; Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự ;
Căn cứ các Điều 463; 466; khoản 2 Điều 357; 468; 469; 688 Bộ luật Dân sự ; Điều 27; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu C.
Buộc anh Lê Tuấn H có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông Nguyễn Hữu C và bà Nguyễn Thị T số tiền nợ gốc là 20.000.000đồng ( hai mươi triệu đồng).
Đình chỉ đối với yêu cầu của ông C về việc yêu cầu anh H trả tiền lãi.
Kể từ ngày người được thi hành có có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí: Anh Lê Tuấn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
Hoàn trả ông Nguyễn Hữu C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 860.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0012133 ngày 16/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hoà.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Báo cho các đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: -TAND T. Bắc Giang; -VKSND H. Hiệp Hòa; -Chi cục THADS H. Hiệp Hòa; -Đương sự; -Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đào Thị Oanh |