vanban.org

Bản án 71/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 14/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đàm Văn T

Tuyên bố: Bị cáo Đàm Văn Tphạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ". Xử phạt bị cáo: Đàm Văn T 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đàm Văn Tphạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ". - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đ…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đàm Văn T
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 1 Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2022/HSST
Ngày: 14/7/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Hợp

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Hoan

2. Bà Nông Thị Duyên

Thư ký phiên tòa: Ông Lục Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/HSST ngày 01 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2022/QĐXXST-HS ngày 30/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ và tên: Đàm Văn T; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 24/8/1988 tại: huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm Ngọc Quyến, xã H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đàm Thế A, sinh năm 1952 (đã chết năm 2010); Con bà: Vương Thị H, sinh năm 1954; Trú tại: xóm Ngọc Quyến, xã H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vợ: Ấu Phương A, sinh năm 1989; Trú tại: xóm Ngọc Quyến, xã H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Có 01 con sinh năm 2014; Có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 18/3/2022 đến nay.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo theo chỉ định: Bà Phùng Thị Ương , cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cao bằng.

Bị hại: 1. Hoàng Văn H (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Hoàng Trọng N, sinh năm 1966 (Bố đẻ)

Địa chỉ: Xã Kim Sơn, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp bị hại: Phạm Văn T, sinh năm 1989

Địa chỉ: Xã Kim Sơn, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Dương Đoàn H, sinh năm 1984

Địa chỉ: Tổ 12, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Hoàng Minh T, sinh năm 1975

Địa chỉ: Tổ 17, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Vắng mặt.

2. Lương Thị L, sinh năm 1954.

Địa chỉ: xã Đức Hồng, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 20/01/2022 Đàm Văn T điều khiển xe ô tô tải, biển kiểm soát 11C-013.82 đi từ nhà tại xóm Ngọc Quyến, xã H, thành phố Cao Bằng đến khu tái định cư gang thép theo trục đường Khau Hân – Bản Gủn. Khi đi đến đoạn đường trước Cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại, kính mắt Q thuộc tổ 03, phường Đ, thành phố Cao Bằng, T nhìn thấy có 01 (một) xe ô tô màu đen đang đỗ ở lề đường bên phải theo chiều đi của mình. Quan sát phía trước không có xe đi ngược chiều, T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 11C-013.82 lấn qua vạch sơn giữa đường khoảng 60cm (sáu mươi centimet) để tránh chiếc ô tô màu đen đang đỗ để vượt lên. Cùng lúc đó T phát hiện có 01 xe mô tô biển kiểm soát 11K1-1464 do Dương Đoàn H (Sinh năm 1984; trú tại: tổ 12, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) điều khiển chở Hoàng Văn H (Sinh năm 1988; trú tại: thôn 3, Nhai Thổ, xã Kim Sơn, huyện B, tỉnh Lào Cai) đang di chuyển theo hướng ngược chiều với tốc độ khá nhanh tại phần đường của H. T chưa kịp điều khiển xe ô tô sang phần đường bên phải theo chiều đi của mình thì xảy ra va chạm tại phần đường của H. Sau tai nạn H và H được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng cấp cứu. Đến khoảng 05 giờ 00’ ngày 21/01/2022 Hoàng Văn H tử vong.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã T hành khám nghiệm hiện trường vào hồi 19 giờ 00 phút ngày 20/01/2022. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, phẳng, có vạch sơn vàng đứt quãng chia đôi làn đường, tầm nhìn không bị che khuất. Theo chiều hướng từ ngã tư Nà Cáp về hướng km5, mép đường bên phải là (+), mép đường bên trái là (-) ; điểm mốc là cột đèn chiếu sáng số 25A trước cửa nhà Q, kí hiệu (C); (I) là vạch sơn vàng đứt quãng chia đôi đường. Lấy mép đường bên phải (+) làm chuẩn, T hành đo đạc tại hiện trường, các vị trí lần lượt như sau:

Dấu vết (1) là đám mảnh gương vỡ của xe ô tô, biển kiểm soát 11C-013.82 có kích thước 1m65x1m23. Tâm (1) cách vạch sơn giữa đường (I) là 39cm, cách mép đường bên (+) là 3m13, cách tâm vết (2) là 2m45, cách đầu vết (2) là 79cm, cách đỉnh đầu nạn nhân là 13m28, cách điểm mốc (C) là 11m49.

Dấu vết (2) là vết xương vỡ kéo dài, rải rác tại mặt đường, có kích thước 3m91x68cm. Tâm (2) cách vạch sơn giữa đường (I) là 57cm, cách mép đường bên (+) là 2m93, cách đầu vết (3) là 1m40, cách tâm vết (3) là 2m25, cách điểm mốc (C) là 9m22.

Dấu vết (3) là thanh kim loại thanh bảo vệ ngang xe bên trái xe ô tô 11C-013.82 tại hiện trường, có kích thước 1m86x5cm. Tâm (3) cách vạch sơn giữa đường (I) là 66cm, cách mép đường bên (+) là 2m82, cách tâm vết (4) là 1m91, cách điểm mốc (C) là 7m30.

Dấu vết (4) là đám mảnh nhựa vỡ, dầu loang, chân nhẫm của xe mô tô 11K1-1464, có kích thước 1m35x1m36. Tâm (4) cách vạch sơn giữa đường (I) là 64cm, cách mép đường bên (+) là 2m78, cách đầu vết (5) là 57cm, cách điểm mốc (C) là 5m87.

Dấu vết (5) là vết cày của chân nhẫm trước phải xe mô tô 11K1-1464, có chiều hướng chếch từ (-) sang (+), có kích thước 2m70x1,5cm. Đầu vết (5) cách vạch sơn giữa đường (I) là 1m09, cách mép đường bên (+) là 2m30, cách đầu vết (6) là 1m50, cách điểm mốc (C) là 5m30. Cuối (5) cách điểm mốc (C) là 2m49, cách mép đường bên (+) là 14cm.

Dấu vết (6) là vết cày của đuôi ống xả xe mô tô 11K-1464 có chiều hướng từ ngã tư Nà Cáp về hướng km5 chếch sang mép đường bên (+) có kích thước 43cmx1,5cm. Đầu (6) cách mép đường bên (+) là 1m03, cách vạch sơn giữa đường (I) là 2m39, cách tâm vết (7) là 2m86, cách điểm mốc (C) là 3m69. Cuối (6) cách mép đường bên (+) là 93cm, cách mốc (C) là 3m36.

Dấu vết (7) là thanh kim loại, thanh ngang bảo vệ bên trái xe ô tô 11C-013.82, có kích thước 1m79x5cm. Tâm (7) cách mép đường bên (+) là 1m38, cách tâm vết (8) là 5m23, cách điểm mốc (C) làm 1m01.

Dấu vết (8) là vết máu, mũ bảo hiểm, giầy trên mặt vỉa hè bên (+) có kích thước 1m98x1m07. Tâm (8) cách mép đường bên (+) là 1m24, cách đỉnh đầu nạn nhân là 2m54, cách điểm mốc (C) là 4m60.

Dấu vết (9) là vị trí nạn nhân tại hiện trường đang trong tư thế nằm úp, hai chân duỗi thẳng, mặt nghiêng sang bên phải có vũng máu rộng 2m05x88cm và phòi tổ chức não tại vết thương vùng trán, kích thước từ đỉnh đầu đến gót chân bên trái 1m 55, vai rộng 37cm. Đỉnh đầu nạn nhân cách mép đường bên (+) là 36cm, cách tâm vết (10) là 2m02, cách vạch sơn giữa đường (I) là 3m23, cách điểm mốc (C) là 3m21. Gót chân bên trái cách mép đường bên (+) là 75cm, cách điểm mốc (C) là 63cm.

Dấu vết (10) là vết máu trên mặt đường, có kích thước 58cmx35cm. Tâm (10) cách vạch sơn giữa đường (I) là 1m75, cách mép đường bên (+) là 1m71, cách điểm mốc (C) là 5m92.

Các dấu vết để lại hiện trường phù hợp với các dấu vết trên phương tiện tại hiện trường và phù hợp với biên bản khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển kiểm soát 11C- 013.82, xe mô tô biển kiểm soát 11k-1464.

Ngày 21/01/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 30 yêu cầu xác định nguyên nhân chết của Hoàng Văn H. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 004/22/TT ngày 22 tháng 01 năm 2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Cao Bằng kết luận: “Nguyên nhân chết do: Chấn thương sọ não nặng”.

Ngày 28/02/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 55 đề nghị giám định tỉ lệ tổn thương cơ thể của Dương Đoàn H. Tại bản kết luận giám định số 024/22/TgT ngày 07/3/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Cao Bằng kết luận “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 19%”.

Ngày 23/02/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 48 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng giám định vận tốc trung bình của 02 xe liên quan tại thời điểm trước khi xảy ra va chạm. Tại bản kết luận giám định số 05 ngày 07/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Vận tốc trung bình của xe ô tô tải có mui, màu xanh, biển kiểm soát 11C-013.82 tại thời điểm trước khi xảy ra tai nạn là 17,2 km/h đến 18,7 km/h. Vận tốc trung bình của xe mô tô kiểu dáng dream, màu nâu, biển kiểm soát 11K1-1464 tại thời điểm trước khi xảy ra tai nạn là 47,5 km/h đến 51,1 km/h ”.

Quá trình giải quyết vụ án, bị can Đàm Văn T đã tự nguyện bồi thường cho người đại diện của gia đình bị hại Hoàng Văn H số tiền 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng), đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Hành vi của Đàm Văn T đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Cao bằng lập hồ sơ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 61/CT-VKSTP ngày 31/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Đàm Văn T về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và khai: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 20/01/2022 bị cáo lái xe ô tô tải đi từ nhà tại xóm Ngọc Quyến, xã H, thành phố Cao Bằng đến khu tái định cư gang thép. Khi đến tổ 03, phường Đ, thành phố Cao Bằng thấy có 01 xe ô tô màu đen đang đỗ ở lề đường bên phải theo chiều đi của mình, quan sát phía trước không có xe đi ngược chiều, bị cáo điều khiển xe ô tô lấn qua vạch sơn giữa đường khoảng 60cm (sáu mươi centimet) tránh ô tô đang đỗ để vượt lên. Cùng lúc đó có 01 xe mô tô do Dương Đoàn H điều khiển chở Hoàng Văn H đang di chuyển theo hướng ngược chiều với tốc độ khá nhanh tại phần đường của H, chưa kịp điều khiển xe ô tô sang phần đường bên phải theo chiều đi của mình thì xảy ra va chạm tại phần đường của H khiến Hoàng Văn H ngồi sau bị chấn thương sọ não tử vong tại chỗ, xe máy hư hỏng. Bị cáo đã đến Công an phường Đề Thám trình báo.

Sau khi sự việc xảy ra đã đến gia đình bị hại xin lỗi, thỏa thuận bồi thường số tiền 140.000.000,đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng). Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng). Còn 20.000.000,đ (Hai mươi triệu đồng) đã thỏa thuận để T nhận được tiền bảo hiểm rồi sẽ giao lại cho gia đình trong thời hạn ba tháng kể từ ngày có bản án của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng.

Bị cáo nhất trí với các biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm dấu vết phương tiện, Kết luận giám định pháp y số 004/22/TT ngày 22/01/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Cao Bằng, Kết luận giám định số 024/22/TgT ngày 07/3/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Cao Bằng, Kết luận giám định số 05 ngày 07/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng cũng như các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án.

Đại diện hợp pháp của bị hại ông Hoàng Trọng N là bố đẻ, ủy quyền cho con rể là ông Phạm Văn T tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai và đơn trình bày xác nhận đã được bồi thường số tiền 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng), 20.000.000,đ (Hai mươi triệu đồng) thỏa thuận bị cáo sẽ trả sau, giữ nguyên ý kiến như trong quá trình điều tra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo xác nhận bị hại Dương Đoàn H do có một phần lỗi là đã uống rượu khi điều khiển xe máy nên tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Hoàng Văn H số tiền 12.000.000,đ (Mười hai triệu đồng), ngoài ra không có ý kiến gì thêm. Đối với phương tiện giao thông là chiếc xe tải do bị cáo mượn của người thân trong họ, xe đã được trả lại cho chủ sở hữu, chủ xe không có ý kiến khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, xác định bị cáo có lỗi khi lấn sang làn bên trái 60 cm nên khi gặp xe mô tô của H đi ngược chiều với tốc độ cao hơn đã xảy ra va chạm vào gương chiếu hậu bên trái xe ô tô của T dẫn đến bị hại H ngồi sau xe bị ngã chấn thương sọ não và tử vong, bị hại H thương tích 19%, xe mô tôt hư hỏng nặng. Đàm Văn T có lỗi vô ý với hậu quả chết người nhưng hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, tích cực bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000đ và được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, đủ điều kiện cho hưởng án treo.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"; xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại các phương tiện giao thông cho các chủ sở hữu là đúng pháp luật.

Giấy phép lái xe mang tên bị cáo cần được trả lại cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, gia đình bị hại H và bị cáo đã tự thỏa thuận bồi thường số tiền 140.000.000đ; đa bồi thường được 120.000.000đ, số còn lại cho bị cáo trả sau. Bị hại H không yêu cầu bị cáo bồi thường, tự sửa chữa xe máy; cần ghi nhận trong bản án.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"; xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã xin lỗi gia đình, tích cực bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000đ. Bị hại H cũng có một phần lỗi khi đã uống rượu, đi nhanh không xử lý kịp nên xảy ra va chạm. Đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, đủ điều kiện cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách với mức án thấp nhất như Viện liểm sát đề nghị.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; khi nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải, sự việc xảy ra là ngoài ý muốn nên bị cáo rất ân hận và đã cố gắng khắc phục hậu quả. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Đàm Văn T đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản khám nghiệm, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định phương tiện, kết luận giám định tốc độ, kết luận giám định pháp y và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 20/01/2022, tại đường Khau Hân - Bản Gủn thuộc tổ 03, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Đàm Văn T điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Veam, biển kiểm soát 11C - 013.82 đi lấn sang phần đường dành cho xe đi ngược chiều, va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 11K1-1464 do Dương Đoàn H điều khiển chở Hoàng Văn H. Hậu quả Hoàng Văn H tử vong và Dương Đoàn H bị thương tích 19%, xe mô tô hư hỏng nặng.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe, nhận thức được khi tham gia giao thông phải đảm bảo an toàn, không gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông khác nhưng do bị cáo cho rằng phía trước là đoạn đường thẳng, có vạch sơn màu vàng đứt quãng chia đôi đường, tầm nhìn thoáng, không bị che khuất, các phương tiện tham gia giao thông ít nên lấn qua phần đường của xe ngược chiều để vượt qua xe ô tô đang đỗ với tốc độ cho phép nhưng cùng lúc đó gặp xe mô tô của H di chuyển theo hướng ngược chiều với tốc độ khá cao nên đã xảy ra tai nạn. Hành vi lấn đường, vượt xe của bị cáo trong trường hợp này là không đảm bảo an toàn, vi phạm điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ với lỗi vô ý cẩu thả dẫn đến một người chết, một người bị thương, hư hỏng tài sản nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của Đàm Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố truy tố bị cáo về tội danh, điểm, khoản, điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với Dương Đoàn H là người trực tiếp điều khiển xe mô tô chở bị hại đang di chuyển theo hướng ngược chiều với 47,5 km/h đến 51,1 km/h, có sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông là vi phạm quy định của pháp luật về an toàn giao thông đường bộ. Cơ quan công an đã xử phạt vi phạm hành chính 7.150.000đ và tước quyền sử dụng giấy phép lái xe là thỏa đáng, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tội phạm có tính chất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông nơi công cộng, gây thiệt hại tính mạng của bị hại Hoàng Văn H, thiệt hại sức khỏe cho bị hại Dương Đoàn H và thiệt hại tài sản là xe máy của Hoàng Minh T nên phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nhưng đã tự nguyện bồi thường, cố gắng khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng) và cam kết bồi thường số tiền còn lại 20.000.000,đ (Hai mươi triệu đồng) cho gia đình bị hại sau khi thanh toán bảo hiểm. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 và tình tiết“Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Người đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về hình phạt chính:

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và được chính quyền địa phương nhận xét quá trình sinh sống luôn chấp hành tốt đường lối chủ trương, pháp luật của nhà nước; bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà đủ điều kiện để áp dụng khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 18/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo và Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo hưởng án treo, giao cho UBND nơi cư trú giám sát trong thời gian thử thách là đủ nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo. Việc cho bị cáo hưởng án treo không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm ở địa phương mà thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo thành người tốt và lao động để nuôi sống gia đình.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, là lao động chính trong gia đình nên không nhất thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:

Đối với chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu Veam, biển kiểm soát 11C - 013.82 là của Lương Thị L (sinh năm 1954, trú tại: Đức Hồng, T, Cao Bằng) mua cho con trai là Triệu Văn H (sinh mă 1987, trú tại: T, Cao Bằng); năm 2018 H đi chấp hành án, bà L đã ủy quyền cho T là cháu rể của mình quản lý, sử dụng xe ô tô. Ngày 09/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã trả lại chiếc xe ô tô cùng toàn bộ giấy tờ liên quan cho Đàm Văn T. Lương Thị L không có ý kiến khác, Tòa án không xem xét nhưng cần ghi nhận trong bản án.

Chiếc xe mô tô kiểu dáng dream, màu nâu, biển kiểm soát 11K1-1464, xác định chiếc xe là của Hoàng Minh T (sinh năm 1975, trú tại: tổ 17, phường S, thành phố Cao Bằng) ủy quyền cho Dương Đoàn H từ tháng 7/2021 để H quản lý và sử dụng. Ngày 09/5/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã trả lại chiếc xe mô tô cùng giấy đăng ký xe cho Dương Đoàn H. Hoàng Minh T không có ý kiến khác, Tòa án không xem xét nhưng cần ghi nhận trong bản án.

Về 01 Giấy phép lái xe số 040102003158 hạng C mang tên Đàm Văn T của bị cáo Đàm Văn T. Ngày 13/7/2022 Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đã trả lại Giấy phép lái xe này theo Biên bản làm việc về xác nhận đã nhận lại đồ vật, tài sản ngày 13/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng. Bị cáo Đàm Văn T không có ý kiến khác, Tòa án không xem xét nhưng cần ghi nhận trong bản án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận, bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng) và còn 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) sẽ thanh toán sau theo biên bản ngày 16/5/2022. Người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến khác về trách nhiệm dân sự nên cần ghi nhận trong bản án.

Bị hại H đã tự nguyện hỗ trợ khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại H số tiền 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng); không yêu cầu bị cáo T bồi thường tiền tổn hại sức khỏe và sửa xe nên Hội đồng xét xét xử không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước. Bị cáo, đại diện người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đàm Văn T

Tuyên bố: Bị cáo Đàm Văn Tphạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ".

2. Xử phạt bị cáo: Đàm Văn T 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đàm Văn T cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Đàm Văn T thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

3. Về xử lý vật chứng:

Xác nhận: Bị hại Dương Đoàn H là đại diện theo ủy quyền của Hoàng Minh T đã nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô kiểu dáng dream, màu nâu, biển kiểm soát 11K1-1464 cùng giấy tờ liên quan theo biên bản ngày 17/5/2022 của Công an thành phố Cao Bằng.

Bị cáo Đàm Văn T đại diện theo ủy quyền của Lương Thị L đã nhận lại 01 xe ô tô tải nhãn hiệu Veam, biển kiểm soát 11C - 013.82 cùng các giấy tờ, tài liệu liên quan theo biên bản ngày 17/5/2022 của Công an thành phố Cao Bằng.

Bị cáo Đàm Văn T đã nhận lại Bản chính Giấy phép lái xe số 040102003158 hạng C mang tên Đàm Văn T theo Biên bản làm việc về xác nhận đã nhận lại đồ vật, tài sản ngày 13/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng.

4. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo và người đại diện hợp pháp bị hại là ông Phạm Văn T đã tự nguyện thỏa thuận các khoản bồi thường thiệt hại về dân sự với số tiền 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng), bị cáo đã bồi thường 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng) và có trách nhiệm bồi thưởng tiếp 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) theo biên bản ngày 16/5/2022. Bị hại Dương Đoàn H, đại diện hợp pháp của bị hại Hoàng Văn H không có yêu cầu khác về trách nhiệm dân sự, Tòa án không giải quyết.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Minh T, Lương Thị L không có yêu cầu khác về dân sự, tòa án không giải quyết.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Bị cáo Đàm Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Bị cáo có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại Dương Đoàn H, đại diện hợp pháp của bị hại Hoàng Văn H là Phạm Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần của bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ