- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo N.V.L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN A THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2022/HSST Ngày: 11/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN A, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân
1) Ông Tạ Đức Minh
2) Ông Nguyễn Đình Hùng
- Thư ký ghi biên bản phiên Tòa: Bà Nguyễn Minh Ngọc –Thư ký Tòa án nhân dân quận A, Thành phố H.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận A-Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng – Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận A, thành phố H đã xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 57/2022/HSST, ngày 13 tháng 4 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo: Họ và tên: N.V.L sinh năm 1986. HKTT và chỗ ở: Tổ 5, phường A, quận A, Thành phố H. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 7/12. Con ông: Không rõ. Con bà: N.T.L sinh năm 1956. Bị cáo là con duy nhất. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 000000283 lập ngày 30/3/2022 tại Công an quận A và lý lịch bị can thể hiện bị cáo chưa có tiền án tiền sự.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 27/10/2021, tạm giam từ ngày 02/11/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H.
( Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 19h25’ ngày 27/10/2021, tổ công tác CA phường A đang làm nhiệm vụ tại khu vực phố T, phường A phát hiện N.V.L điều khiển xe máy Wave BKS: 29K1-074.62 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, nam thanh niên thả từ lòng bàn tay trái xuống lòng đường 01 gói nhỏ bọc bên ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ L khai nhận chất bột màu trắng nêu trên là ma túy Heroin, L mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, đưa các đối tượng về trụ sở làm rõ
Tang vật thu giữ:
- 01 xe máy Honda Wave BKS: 29K1-074.62
- 01 điện thoại Nokia 1202 màu xanh đã qua sử dụng
- 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng
- Số tiền 120.000đ
Tại bản kết luận giám định ma túy số 7775 ngày 03/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H kết luận:
- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,186 gam
Tại cơ quan điều tra, N.V.L khai nhận:
Khoảng 19h00’ ngày 27/10/2021, L mượn xe máy Wave BKS: 29K1-074.62 của anh V.N.A ( tên gọi khác là T, SN: 1977, HKTT: Tổ 5 phường A, quận A) nói là đi ra ngoài có việc nhưng thực chất là đi mua ma túy về sử dụng. Sau đó, L điều khiển xe máy đến tổ 9 phố T, phường A để mua ma túy của một người tên H (Lạc) sử dụng số điện thoại 0848435188. Khi đến nhà H, L đưa qua khe cửa số tiền 200.000đ thì thấy có người đưa lại 01 gói ma túy Heroine bọc bằng giấy bạc. L cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe máy về nhà. Khi đi đến khu vực phố T bị công an kiểm tra, do sợ hãi nên L đã thả gói ma túy từ lòng bàn tay trái xuống đất thì bị lực lượng công an yêu cầu nhặt lên để kiểm tra, bên trong gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng L tự khai là Heroin như nội dung nêu trên.
Tiến hành dẫn giải đối tượng N.V.L xác định vị trí L mua ma túy, kết quả: L xác định vị trí mua ma túy là nhà số 3, ngõ 75 T, phường A, quận A, thành phố H. Tiến hành xác minh tại Công an phường A, kết quả đó là nơi ở của N.Đ.L (tên gọi khác: H, SN:1985, HKTT: Tổ 5 phường A, quận A, thành phố H). Tại cơ quan điều tra, Lạc khai có sử dụng số thuê bao 0848435188 nhưng không thừa nhận đã bán ma túy cho L vào ngày 27/10/2021. Lạc khai chiều ngày 27/10/2021 có 02 người bạn xã hội lạc không rõ nhân thân lai lịch đến chơi nhà Lạc. Trong khoảng thời gian từ 18h đến 21h ngày 27/10/2021, Lạc có để điện thoại trên bàn trong phòng khách. Lạc khai không liên lạc với L để bán ma túy. Lạc không biết ngày 27/10/2021 ai là người bán ma túy cho L. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa L và Lạc nhưng không làm rõ được.
Cơ quan điều tra Công an quận A đã tiến hành làm thủ tục rút list số thuê bao 0848435188 của Lạc từ khoảng thời gian 01/10/2021 đến 10/11/2021, tuy nhiên kết quả không thể hiện thông tin chủ thuê bao và các cuộc gọi đến, gọi đi của thuê bao và các nội dung khác.
Ngoài lời khai của L, Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh Lạc đã bán ma túy cho L ngày 27/10/2021 do vậy không có căn cứ xử lí đối với Lạc về hành vi bán ma túy.
Tại bản cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 12 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận A đã truy tố bị cáo N.V.L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm nhân dân quận A sau khi tóm tắt nội dung sự việc, đánh giá lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; trình bầy lời luận tội và đề nghị như sau:
Đề nghị áp dụng điểm n khoản 2 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt N.V.L từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt ngày 27 tháng 10 năm 2021.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có thu nhập ổn định.
Về tang vật: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,186 gam Heroin
Tịch thu sung công 01 điện thoại di động L sử dụng vào việc phạm tội.
Trả lại bị cáo 120.000 đồng vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận A, Thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận A, Thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Về hành vi phạm tội của bị cáo N.V.L: Lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 19h35 phút ngày 27/10/2021, tại khu vực đầu ngách nhà số 38/54 phố T, quận A, thành phố H, N.V.L có hành vi tàng trữ trái phép 0,186 gam ma túy Heroin, mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị công an phường A, quận A phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi phạm tội lần này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận A truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ Nhà nước nghiêm cấm các hành vi mua bán, vận chuyển, tang trữ trái phép chất ma túy. Biết là nhà nước nghiên cấm nhưng bị cáo vẫn cất giữ trái phép phép 0,186 gam ma túy Heroin với mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện. Việc bị phát hiện là ngoài ý muốn của bị cáo. Bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước, từ ma túy còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Do đó hành vi vi phạm của bị cáo cần phải nghiêm trị.
. Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sư: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo L chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không.
.Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời cũng tạo môi trường cai nghiện cho bị cáo bởi sự kiểm soát của pháp luật.
Bị cáo không có thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về vật chứng: 0,186 gam ma túy Heroin thu giữ của bị cáo cho tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra bị cáo khai dùng chiếc điện thoại đó để gọi điện mua ma túy do vậy thấy cần tịch thu sung công.
Đối với số tiền 120.000 đồng thu giữ của bị cáo thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo do vậy thấy cần trả lại cho bị cáo.
. Các vấn đề khác:
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, đen, bạc BKS: 29K1-074.62 tạm giữ của L, xác minh đăng kí xe mang tên L.T.K (SN: 1974, HKTT: Tổ 14, phường A, quận A, thành phố H). Ngày 27/10/2021 anh K cho bạn là V.N.A (SN: 1977, HKTT: Tổ 5 phường A) mượn xe. Sau khi mượn xe, anh A gặp N.V.L, khi L hỏi mượn xe, nói là đi có việc anh A đã đồng ý. Lời khai của anh N.N.A phù hợp với lời khai của anh L.T.K và N.V.L do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận A đã trả lại anh L.T.K chiếc xe máy trên. Anh K đã nhận lại xe và không có ý kiến gì khác.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo N.V.L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật hình sự. Áp dụng các Điều 106, 135, 299, 326, 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ vụ Quốc hội.
Xử phạt: N.V.L 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 10 năm 2021.
2. Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp niêm phong ngoài có ghi: 0,186 gam Heroin (thu mẫu 0,021 gam) bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Hùng; Lê Huy Quý và N.V.L hiện đang lưu tại Kho vật chứng Công an quận A theo Phiếu nhập kho vật chứng và biên bản giao, nhận vật chứng ngày 9 tháng 11 năm 2021.
Tịch thu sung công 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng (kèm theo sim) hiện đang lưu tại Chi Cục thi hành án dân sự quận A, Thành phố H theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12 tháng 4 năm 2022.
Trả lại cho bị cáo 120.000 đồng hiện đang lưu tại Chi Cục thi hành án dân sự quận A, Thành phố H theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 12 tháng 4 năm 2022.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKS quận A; - Công an quận A - TAND Thành phố H, - VKSND TP H; - Phòng quản lý hồ sơ nghiệp vụ Công An Thành phố H; - Thi hành án dân sự quận A - Bộ Tư pháp - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Thu Nga |