- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2022/HSST Ngày 21/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ,TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tâm;
2. Ông Phạm Đức Tuế.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Khánh Luyện - Kiểm sát viên.
Ngày 21/12/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2022/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2022/QĐXXST-HS ngày 08/12/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Đức T (Tên gọi khác: Không có).
Sinh ngày 05/5/1956 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm NT, xã ĐT, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 5/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức Tiền (đã chết) và con bà Trương Minh Châu (đã chết); có vợ là Lường Thị Vy, sinh năm 1962, có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Tại bản án hình sự phúc thẩm số: 81/HSPT ngày 10/11/1986 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Thái, xử phạt Trần Đức T 06 tháng tù giam về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa”, theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 1985. Bị cáo đã được xóa án tích.
+ Tại bản án số: 48/2012/HSST ngày 29/10/2012 của Tòa án nhân dân huyện Đ, xử phạt Trần Đức T 08 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 31/01/2018 đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/9/2022 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt)
* Người chứng kiến:
1. Anh Nguyễn Quang Th, sinh năm: 1973. Nơi cư trú: Tổ 3, phường HVT, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/9/2022, T đi nhờ xe mô tô của một người không quen biết từ nhà tại xã ĐT, huyện Đ đến khu vực bến xe Đ thuộc thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy. Khi đến nơi, T gặp 01 người phụ nữ khoảng 30 tuổi (T không biết rõ tên tuổi, địa chỉ người này), T hỏi người này có ma túy bán không thì người này nói mua bao nhiêu, T lấy tiền ra đếm được 10.500.000 đồng và đưa cho người này, người phụ nữ cầm tiền bảo T đứng chờ, một lúc sau người phụ nữ quay lại và đưa cho T 01 túi nilon màu trắng bên trong có các cục chất bột màu trắng, T liền cất giấu vào trong người. Do lúc này không có xe để đi về nên T đã đi bộ đến nhà Trần Đức Đạt (Sinh năm: 1964, trú tại tổ dân phố Bãi Á, thị trấn Chợ Chu, huyện Đ) và mượn của Đạt 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA ACRUZO, biển kiểm soát 20C1-273.07 để đi về nhà. Đến khoảng 10 giờ ngày 27/9/2022, T điều khiển xe mô tô mang theo gói ma túy đi từ nhà đến khu vực xóm Đoàn Kết, xã Trung Hội, huyện Đ để tìm người bán số ma túy mua được hôm trước thì bị tổ công thuộc phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an tỉnh Thái nguyên, phối hợp với Công an xã Trung Hội, huyện Đ đang làm nhiệm vụ gần đó kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, đã phát hiện và thu giữ tại túi quần bên trái, phía trước T đang mặc trên người có 01 túi nilon màu trắng, bên trong có các cục chất bột màu trắng (T khai là ma túy loại Heroine), T cất giấu gói heroine mục đích để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong 01 túi nilon màu trắng, bên trong có các cục chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A; tạm giữ tại túi quần bên phải của T đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen, gắn thẻ sim có số thuê bao 0344745260 và số tiền 500.000 đồng, tổ công tác đã niêm phong chiếc điện thoại thu giữ của T vào trong phong bì ký hiệu B. Sau đó, tổ công tác đã giao T, vật chứng và xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA ACRUZO, biển kiểm soát 20C1-273.07 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Định Hoá giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên T hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo, không phát hiện, thu giữ được gì liên quan đến tội phạm.
Mở niêm phong, cân xác định trọng lượng 01 gói chất bột màu trắng thu giữ trên người Trần Đức T có trọng lượng 11,33 (mười một phẩy ba ba) gam, lấy 0,84 (không phẩy tám tư) gam niêm phong trong bì ký hiệu A1 gửi giám định, còn lại 10,49 (mười phẩy bốn chín) gam niêm phong trong bì ký hiệu A2 lưu kho vật chứng theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định số: 1548/KL-KTHS ngày 05/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Trần Đức T gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine, có khối lượng ban đầu là: 11,33 (mười một phẩy ba ba) gam.
Hoàn lại đối tượng giám định theo biên bản đóng gói niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định là 0,826 (không phẩy tám hai sáu) gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Do có ý định mua ma túy loại Heroine để bán kiếm lời nên từ đầu năm 2022, bị cáo đã tiết kiệm tiền để mua ma túy. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/9/2022, bị cáo đi nhờ xe mô tô của một người không quen biết từ nhà đến khu vực bến xe Đ, thuộc thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy. Khi đến nơi, bị cáo gặp 01 người phụ nữ khoảng 30 tuổi (bị cáo không biết rõ tên tuổi, địa chỉ người này), bị cáo hỏi người này có ma túy bán không thì người này nói mua bao nhiêu, bị cáo lấy tiền ra đếm được 10.500.000 đồng và đưa cho người này, người phụ nữ cầm tiền bảo bị cáo đứng chờ, một lúc sau người phụ nữ quay lại và đưa cho bị cáo 01 túi nilon màu trắng, bên trong có các cục chất bột màu trắng, bị cáo liền cất giấu vào trong người. Do lúc này không có xe để đi về nên bị cáo đã đi bộ đến nhà anh Đạt là em trai bị cáo để mượn xe mô tô để đi về nhà. Đến khoảng 10 giờ ngày 27/9/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô của anh Đạt mang theo gói ma túy đi từ nhà đến khu vực xóm Đoàn Kết, xã Trung Hội, huyện Đ để tìm người bán số ma túy mua được hôm trước thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.
Về vật chứng:
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA ACRUZO, biển kiểm soát 20C1-273.07. Sau khi điều tra xác minh làm rõ Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô cho anh Trần Đức Đạt là chủ sở hữu quản lý, sử dụng.
- 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,826 (không phẩy tám hai sáu) gam Heroine và vỏ bao gói mẫu giám định là mẫu vật còn lại sau giám định;
- 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 10,49 (mười phẩy bốn chín) gam Heroine thu giữa của Trần Đức T;
- 01 bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang thu giữ của Trần Đức T và 01 túi nilon màu trắng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen cũ đã qua sử dụng có số IMEL 1: 863539043037657, số IMEL 2: 863539043037640 kèm theo số điện thoại 0344.745.260;
- Tiền Việt Nam 500.000 đồng thu giữ của bị cáo.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng hiện đang gửi tại Kho bạc nhà nước huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Với những hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số 70/CT-VKSĐH ngày 22/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đức T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất, nội dung, hành vi phạm tội, hậu quả và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo T từ 08 (tám) năm tù đến 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt tiền bổ sung : Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,826 (không phẩy tám hai sáu) gam Heroine và vỏ bao gói mẫu giám định là mẫu vật còn lại sau giám định;
+ 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 10,49 (mười phẩy bốn chín) gam Heroine thu giữa của Trần Đức T;
+ 01 bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang thu giữ của Trần Đức T và 01 túi nilon màu trắng.
- Trả lại cho bị cáo:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen cũ đã qua sử dụng có số IMEL 1: 863539043037657, số IMEL 2: 863539043037640 kèm theo số điện thoại 0344.745.260;
- Tiền Việt Nam 500.000 đồng.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA ACRUZO, biển kiểm soát 20C1-273.07. Sau khi điều tra xác minh làm rõ Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô cho anh Trần Đức Đạt là chủ sở hữu quản lý, sử dụng đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị Họi đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận, đối đáp: Bị cáo không có tranh luận, bào chữa gì.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án cho bị cáo lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn, hối cải mong Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, trở thành công dân tốt trong những năm cuối đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1 ] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của người chứng kiến: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia tố tụng nhưng anh Nguyễn Quang Thái vẫn vắng mặt. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về sự vắng mặt của người chứng kiến, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đề nghị xét xử vắng mặt người chứng kiến. Quá trình điều tra, anh Thái không có khiếu nại gì đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền T hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia nên việc vắng mặt của anh Thái tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử T hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Quang Thái theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về tội danh và điều luật áp dụng:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến về thời gian, địa điểm, vị trí, về số Heroine bị cáo bị thu giữ. Phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được khách quan có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận:
Do hám lời nên, khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/9/2022, bị cáo đi nhờ xe mô tô của một người không quen biết từ nhà đến khu vực bến xe Đ thuộc thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy. Khi đến nơi, bị cáo gặp 01 người phụ nữ khoảng 30 tuổi (bị cáo không biết rõ tên tuổi, địa chỉ người này), bị cáo hỏi người này có ma túy bán không thì người này nói mua bao nhiêu, bị cáo lấy tiền ra đếm được 10.500.000 đồng và đưa cho người này, người phụ nữ cầm tiền bảo bị cáo đứng chờ, một lúc sau người phụ nữ quay lại và đưa cho bị cáo 01 túi nilon màu trắng bên trong có các cục chất bột màu trắng, bị cáo liền cất giấu vào trong người. Do lúc này không có xe để đi về nên bị cáo đã đi bộ đến nhà anh Đạt là em trai bị cáo để mượn xe mô tô để đi về nhà. Đến khoảng 10 giờ ngày 27/9/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô của anh Đạt mang theo gói ma túy đi từ nhà đến khu vực xóm Đoàn Kết, xã Trung Hội, huyện Đ để tìm người bán số ma túy mua được hôm trước thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Tại Bản kết luận giám định số: 1548/KL-KTHS ngày 05/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Trần Đức T gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine, có khối lượng ban đầu là: 11,33 (mười một phẩy ba ba) gam.
Hoàn lại đối tượng giám định theo biên bản đóng gói niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định là 0,826 (không phẩy tám hai sáu) gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi đã thực hiện như lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chúng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi nêu trên của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1.Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
i) Heroine....có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;”
Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Xét tính chất, hậu quả hành vi của bị cáo thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý. Hành vi của bị cáo hủy hoại sức khỏe của bản thân, vi phạm pháp luật, thực hiện với lỗi cố ý, cần được xử lý nghiêm minh.
. Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
Bị cáo là người nghiện ma túy. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, sau khi đánh giá toàn diện về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Thái xử phạt 06 tháng tù giam về tội : “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa”, theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 1985 và bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 08 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo đã được xóa án tích. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho những người nghiện có ma túy để sử dụng, gây mất trật tự trị an ở địa phương và là một trong những nguyên nhân làm cho một số loại tội phạm khác gia tăng. Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lời bị cáo vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý, cần được xử lý nghiêm minh. Do vậy, mức hình phạt tù đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp, cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[ 6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo không có tài sản gì có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung là không khả thi, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về vật chứng của vụ án:
01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,826 (không phẩy tám hai sáu) gam Heroine và vỏ bao gói mẫu giám định là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 10,49 (mười phẩy bốn chín) gam Heroine thu giữ của Trần Đức T; 01 bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang thu giữ của Trần Đức T và 01 túi nilon màu trắng cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen cũ đã qua sử dụng có số IMEL 1:863539043037657, số IMEL 2: 863539043037640 kèm theo số điện thoại 0344.745.260; Tiền Việt Nam 500.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc bị cáo mua bán trái phép chất ma túy, vì vậy cần trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA ACRUZO, biển kiểm soát 20C1-273.07. Sau khi điều tra xác minh làm rõ Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô cho anh Trần Đức Đạt là chủ sở hữu quản lý, sử dụng là đúng pháp luật. Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nguồn gốc số ma tuý loại Heroine bị thu giữ, bị cáo khai nhận mua của một người phụ nữ không quen biết tại khu vực bến xe khách Đ, thuộc thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, bị cáo không biết họ tên và địa chỉ nên không có đủ cơ sở để xác minh xử lý, khi nào xác định được đối tượng sẽ xử lý sau.
Trong vụ án này, còn có Trần Đức Đạt là người đã cho bị cáo mượn 01 xe mô tô để bị cáo đi về nhà và đi tìm người bán ma túy. Tuy nhiên khi cho mượn xe mô tô, Đạt không biết mục đích của bị cáo nên Đạt không đồng phạm với bị cáo về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo, do đó cần miễn án phí hình sự cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự ; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Đức T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 27/9/2022.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Đức T.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 21/12/2022 để bảo đảm cho việc thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sư:
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,826 (không phẩy tám hai sáu) gam Heroine và vỏ bao gói mẫu giám định là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 10,49 (mười phẩy bốn chín) gam Heroine thu giữa của Trần Đức T; 01 bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang thu giữ của Trần Đức T và 01 túi nilon màu trắng thu giữ của Trần Đức T.
Trả lại cho bị cáo Trần Đức T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen cũ đã qua sử dụng có số IMEL 1: 863539043037657, số IMEL 2: 863539043037640 kèm theo số điện thoại 0344.745.260; Tiền Việt Nam 500.000 đồng.
(Tình trạng vật chứng như tại Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 24/11/2022 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ và Ủy nhiệm chi sô 46 ngày 28/11/2022 giữa Công an huyện Đ và Kho bạc nhà nước huyện Đ).
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135,136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Đức T.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Định Hoá ; - Cơ quan THAHS Công an huyện; - Công an huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Hồng Khánh |