- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Hữu T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:71/2022/HS-ST Ngày 28 tháng 10 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: `
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Ngoan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Sỹ Lượng
2. Bà Phan Thị Thanh Thủy
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị An - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 10 năm 2022 tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An. Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2022/QĐXXST-HS ngày 14/10/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Hữu T - Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 08 năm 1973 tại thị xã Th, tỉnh Nghệ An; nguyên quán: Xã X, huyện N, tỉnh Nghệ an; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm Đ, xã Đ1, Thị xã Th, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hữu V, sinh năm 1933; Con bà Đậu Thị Đ, Sinh năm: 1942; Có vợ Trần Thị D, sinh năm 1979 (đã ly hôn) và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/07/2022 đến nay “có mặt”.
Người chứng kiến: Ông Vũ Quốc B - Sinh năm 1959.
Trú tại: Xóm Đông T, xã Đ1, Thị xã Th, tỉnh Nghệ An “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Trần Hữu T là đối tượng nghiện chất ma túy, vì muốn có ma túy để sử dụng, vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 28/07/2022, Tưởng một mình đón xe khách đi từ xóm Đ, xã Đ1, Thị xã T lên khu vực đường mòn Hồ Chí Minh thuộc xã Nghĩa Long, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, Tưởng tìm và mua được của một người đàn ông T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể 01 gói ni lông màu xanh lục kích thước (9,5 x 6,5)cm, bên trong có chứa 33 (ba mươi ba) viên nén màu hồng có cùng đặc điểm, kích thước giống nhau, có đường kính 0,5cm, là ma túy với giá 1.000.000đồng (một triệu đồng). Sau khi mua xong, T cất giấu vào túi quần phía trước, bên phải mà T đang mặc rồi đón xe về nhà. Đến 16 giờ 15 phút cùng ngày, khi T đang ở nhà tại xóm Đông Thành, xã Đông Hiếu, thị xã Thái Hòa thì bị Tổ công tác Công an xã Đông Hiếu, Thị xã Thái Hòa đến kiểm tra, yêu cầu làm việc. T đã giao nộp 01 (một) gói ma túy có đặc điểm như đã mô tả ở trên cho Tổ công tác. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng, sau đó dẫn giải T về trụ sở Công an Thị xã Thái Hòa để điều tra làm rõ.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập hồi 19 giờ 45 phút ngày 28/7/2022 của cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hòa xác định: Toàn bộ vật chứng thu giữ của Trần Hữu T sau khi loại bỏ bao bì là 33 (ba mươi ba) viên nén màu hồng có khối lượng 2,88 gam (hai phẩy tám mươi tám gam).
Tại bản Kết luận giám định số 1047/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 01/08/2022 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An kết luận: mẫu chất viên nén màu hồng thu giữ của Trần Hữu T gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Số viên nén màu hồng thu giữ của Trần Hữu T có tổng khối lượng là 2,88 gam (hai phẩy tám mươi tám gam).
Tại bản cáo trạng số: 66/CT-VKS ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà đã truy tố Trần Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 - BLHS .
Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và qua luận tội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 - BLHS xử phạt bị cáo Trần Hữu T từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 106 - BLTTHS; Điểm c Khoản 1 Điều 47 BLHS tuyên tịch thu, tiêu huỷ 01 phong bì thư kích thước 10 x 18 cm đã được niêm phong bên trong có chứa 30 (ba mươi) viên ma túy màu hồng là Methamphetamine có cùng đặc điểm có tổng khối lượng là 2,62gam (hai phẩy sáu hai gam) đã thu giữ của Trần Hữu T, (vì đã gửi mẫu vật đi giám định là 03 viên có khối lường 0,26gam (không phẩy hai sáu gam) và sử dụng hết trong quá trình giám định) được ký hiệu là B1 và vỏ giấy niêm phong; 01 gói nilong màu xanh lục kích thước (9,5 x 6,5)cm.
Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Bị cáo đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát, không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thái Hoà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người chứng kiến không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người chứng kiến ông Vũ Quốc B vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai, ý kiến của ông B, nên việc vắng mặt người chứng kiến không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 293 Bộ Luật TTHS Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người chứng kiến.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người pham tội quả tang lập hồi 16 giờ 15 phút ngày 28 tháng 7 năm 2022 tại nhà ở của Trần Hữu T thuộc xóm Đ, Xã Đ1, thị xã Th, Nghệ An. Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với lời khai của người chứng kiến trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Từ đó đã xác định được: Vào khoảng 16 giờ 15 phút ngày 28/07/2022, tại nhà ở của Trần Hữu T; Trần Hữu T đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,88 gam (hai phẩy tám mươi tám gam) ma túy là Methamphetamine thì bị bắt quả tang; số ma túy mà T tàng trữ là để sử dụng không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy nên hành vi của bị cáo Trần Hữu T đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà truy tố là có căn cứ.
Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nghiêm, nhưng do nghiện chất ma túy, để có ma túy sử dụng, bị cáo đã có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến việc độc quyền quản lý của nhà nước ta về chất ma túy, gây tác hại cho sức khỏe, phẩm giá con người, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần xét xử nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng, quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bố và mẹ của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, hạng nhì; vậy cần áp dụng Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Qua biên bản xác minh nguồn thu nhập ngày 06/8/2022 của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hòa thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập bình quân thấp, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án:Vật chứng gồm 01 phong bì thư kích thước 10 x 18 cm đã được niêm phong bên trong có chứa 30 (ba mươi) viên ma túy màu hồng là Methamphetamine có cùng đặc điểm có tổng khối lượng là 2,62gam (hai phẩy sáu hai gam) thu giữ của Trần Hữu T, (vì đã gửi mẫu vật đi giám định là 03 viên có khối lường 0,26gam (không phẩy hai sáu gam) và sử dụng hết trong quá trình giám định) được ký hiệu là B1 và vỏ giấy niêm phong; 01 gói nilong màu xanh lục kích thước (9,5 x 6,5)cm; nay cần tịch thu tiêu hủy theo Điểm a Khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Đối với người người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể, nên không có căn cử để xử lý. Đề nghị Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hòa tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý theo quy định.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38
- BLHS.
Tuyên bố bị cáo Trần Hữu T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt bị cáo Trần Hữu T 19 (mười chín) tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 28/7/2022.
Về vật chứng: Căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 106 - BLTTHS; Điểm c Khoản 1 Điều 47 BLHS tuyên: Tịch thu, tiêu huỷ 01 phong bì thư kích thước 10 x 18 cm đã được niêm phong bên trong có chứa 30 (ba mươi) viên ma túy màu hồng là Methamphetamine có cùng đặc điểm có tổng khối lượng là 2,62gam (hai phẩy sáu hai gam) thu giữ của Trần Hữu T, được ký hiệu là B1 và vỏ giấy niêm phong, 01 gói nilong màu xanh lục kích thước (9,5 x 6,5)cm;
Tang vật trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 10 năm 2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hoà và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà.
Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Trần Hữu T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Công an thị xã Thái Hòa; - VKSND thị xã Thái Hòa; - Chi cục THADS thị xã Thái Hòa; - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngoan |