- Tranh chấp gì? án hình sự — "HSPT - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Quang Th và Nguyễn Hữu Kh, giữ nguyên phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Quyết định số 326/2017/QĐ-UBND Ban hành Quy định quản lý chi…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2022/HS-PT Ngày: 16 - 5 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử Phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Anh Sơn.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Mỹ Hải
Ông Nguyễn Đức Thi
- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Bích Thủy – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện ki m sát nhân dân t nh Nghệ n tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 16/5/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án hình sự Ph thẩm thụ lý số 11/2022/TLPT-HS ngày 12 tháng 01 năm 2022, đối với các bị cáo Bùi Quang Th cùng đồng phạm bị xét xử về tội “Đánh bạc” do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 379/2021/TLST-HS ngày 26/10/2021 của Toà án nhân dân Th phố V, tỉnh Nghệ An. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2022/QĐXXPT-HS ngày 12/4/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 29/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Các bị cáo kháng cáo:
1. Họ và tên: Bùi Quang Th; sinh ngày 10/10/1993; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT: xóm 7, xã N P, Th phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi V T và con bà Nguyễn Thị Ph; vợ, con: chưa có; tiền án: Ngày 30/10/2019, tại bản án số 500/2014/HSST bị Tòa án nhân dân Th phố V xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Gây rối trật tự công cộng"; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 21/8/2015, bị Tòa án nhân dân Th phố V xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội "Đánh bạc"; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/02/2021 đến ngày 02/3/2021 được tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Trần Thị Q; sinh ngày 02/8/1951; giới tính: Nữ; nơi ĐKHKTT: khối 3, phường LL, Th phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 05/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L và con bà Nguyễn Thị B; chồng: Nguyễn Đình Th và có 04 con; tiền án: Ngày 30/11/2017, bị Tòa án nhân dân Th phố V xử phạt 04 tháng tù về tội "Đánh bạc", chấp H1nh xong ngày 31/12/2017; Ngày 22/11/2018, bị Tòa án nhân dân Th phố V xử phạt 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", chấp H1nh xong vào ngày 06/11/2019; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/8/1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 03 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", chấp H1nh xong vào ngày 02/9/2000; ngày 30/7/2001, bị Tòa án nhân dân Th phố V xử phát 42 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", chấp H1nh xong vào ngày 14/8/2004; ngày 20/11/2007, bị Tòa án nhân dân Th phố V xử phạt 07 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", chấp H1nh xong vào ngày 07/10/2012; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/02/2021 đến ngày 02/3/2021 được tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
3. Họ và tên: Nguyễn Hữu Kh; sinh ngày 23/5/1996; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT: xóm 8, xã V S, huyện A S, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết N và con bà Nguyễn Thị K; vợ: Nguyễn Thị T Nhung và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 02/10/2018, bị Công an huyện A S ra quyết định xử lý vi phạm H1nh chính về H1nh vi "Mua số lô, số đề", hiện chưa chấp H1nh nộp phạt; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/02/2021 đến ngày 02/3/2021 được tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
Trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị O, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị H1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm số 379/2021/TLST-HS ngày 26/10/2021 của Toà án nhân dân Th phố V, tỉnh Nghệ An, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 21/02/2021, Nguyễn Văn H gọi điện thoại cho Nguyễn Thị O, Trần Thị Q, Nguyễn Thị L, Nguyễn Hữu Kh và Bùi Quang Th đến nH1 H ở xóm 8, xã N P, Th phố V, tỉnh Nghệ An để đánh bạc. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, các đối tượng O, Q, L, Kh, Nguyễn Thị L1 và một nam thanh niên tên Bin (không rõ lai L, địa chỉ cụ thể) đến nH1 H thì H trải một tấm thảm vải nỉ giữa phòng khách tầng 1 rồi lấy ra 02 (hai) bộ tú lơ khơ, mỗi bộ 36 quân từ "A đến 9" đưa cho các đối tượng này sử dụng để đánh bạc bằng hình thức đánh bài "Ba cây", được thua mỗi ván từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Đánh được một lúc thì Nguyễn Thị L nghỉ và cùng lúc này Bùi Quang Th và Nguyễn Thị H1 đến và ngồi tham gia đánh bạc cùng những người trên. Trong quá trình đánh bạc, Nguyễn Văn H không tham gia đánh bạc nhưng đứng ra thu tiền "hồ" của những người tham gia đánh bạc, mỗi người pH nộp cho H 100.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi các đối tượng Th, O, Q, Kh, L1, H1 và nam thanh niên tên Bin đang đánh bạc tại phòng khách tầng 1 nH1 Nguyễn Văn H thì bị tổ công tác Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.000.000 đồng; thu giữ trong hộp giấy trên chiếu bạc số tiền 1.200.000 đồng; 72 quân bài tú lơ khơ và 01 tấm thảm vải nỉ; 03 chiếc điện thoại di động của H, O và Th. Kiểm tra thu giữ trong túi quần bên trái của Bùi Quang Th số tiền 4.300.000 đồng và trong ví da Th số tiền 3.000.000 đồng; thu giữ trong túi áo ngực trái của Nguyễn Thị O 10.000.000 đồng và trong túi quần pH của O số tiền 4.800.000 đồng; thu giữ trong túi vải trong người Trần Thị Q số tiền 1.200.000 đồng; thu giữ trong túi quần sau bên trái Nguyễn Thị L đang mặc số tiền 4.500.000 đồng; thu giữ ở túi quần sau bên trái của Nguyễn Thị H1 số tiền 3.200.000 đồng và trong túi áo ngực màu đen H1 đang mặc số tiền 8.000.000 đồng. Đối tượng tên Bin bỏ chạy thoát. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ trên mái tôn sát cạnh nH1 Nguyễn Văn H số tiền 10.600.000 đồng. Sau đó tổ công tác dẫn giải các đối tượng cùng tang vật về trụ sở Công an tỉnh Nghệ An lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra xác định, số tiền các bị can sử dụng để đánh bạc trong đó:
Nguyễn Văn H đứng ra tổ chức cho các đối tượng tham gia đánh bạc tại nH1 của mình để thu tiền "hồ", tổng số tiền "hồ" H thu được là 1.200.000 đồng.
Bùi Quang Th mang theo số tiền 7.700.000 đồng, sử dụng 4.700.000 đồng để đánh bạc. Qúa trình đánh bạc đến khi bị bắt thua 300.000 đồng, nộp tiền hồ cho H 100.000 đồng. Số tiền 3.000.000 đồng Th không sử dụng để đánh bạc.
Nguyễn Thị O mang theo số tiền 14.800.000 đồng, sử dụng 4.600.000 đồng để đánh bạc; nộp tiền hồ cho H 100.000 đồng. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt thắng 300.000 đồng. Số tiền 10.000.000 đồng O không sử dụng để đánh bạc.
Nguyễn Thị L sử dụng 4.500.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc không thắng không thua.
Nguyễn Thị H1 mang theo số tiền 11.200.000 đồng, sử dụng 3.200.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc không thắng không thua. Số tiền 8.000.000 đồng H1 không sử dụng để đánh bạc.
Trần Thị Q sử dụng 1.700.000 đồng để đánh bạc; đóng tiền hồ cho H 100.000 đồng. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt thua 400.000 đồng.
Nguyễn Thị L1 sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt thua hết số tiền trên.
Nguyễn Hữu Kh sử dụng 1.200.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt thua hết số tiền trên.
Nguyễn Thị L đánh bạc với O, Q, Kh và L1 tại thời điểm L nghỉ (Th và H1 vào thay) là 11.800.000 đồng (mười một triệu tám trăm nghìn đồng) (Trong đó, tiền L sử dụng đánh bạc là 4.500.000 đồng, O là 4.600.000 đồng, Q 1.200.000 đồng, Kh 1.200.000 đồng, L1 300.000 đồng).
Tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 25.200.000 đồng. Trong đó, tiền thu chiếu bạc 6.000.000 đồng, tiền hồ trong hộp đựng giấy 1.200.000 đồng, tiền đánh bạc và thắng bạc của O 4.800.000 đồng, tiền đánh bạc của Th 4.300.000 đồng, tiền đánh bạc của L 4.500.000 đồng, tiền đánh bạc của H1 3.200.000 đồng, tiền đánh bạc của Q 1.200.000 đồng.
Việc thu giữ và xử lý vật chứng vụ án: Tiền ngân H1ng nH1 nước Việt Nam 56.800.000 đồng; 03 (ba) chiếc điện thoại di động, 72 quân bài tú lơ khơ từ quân A đến 9 đã qua sử dụng và 01 tấm thảm vải nỉ có họa tiết hoa văn kích thước (2x3)m.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Th phố V đã xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Thị O 10.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động; Nguyễn Thị H1 8.000.000 đồng; Bùi Quang Th 01 chiếc điện thoại di động. Vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi H1nh án dân sự Th phố V: Số tiền 38.800.000 đồng (ba mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng) đã được nộp vào kho bạc nH1 nước tỉnh Nghệ An.
Bản án sơ thẩm số 379/2021/TLST-HS ngày 26/10/2021 của Toà án nhân dân Th phố V, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Tổ chức đánh bạc";
Các bị cáo Trần Thị Q, Bùi Quang Th, Nguyễn Thị O, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Hữu Kh và Nguyễn Thị L1 phạm tội “Đánh bạc”
Căn cứ vào khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: xử phạt Nguyễn Văn H 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 321; điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thị Q 30 (Ba mươi) tháng tù.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Quang Th 06 (Sáu) tháng tù.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Kh 06 (Sáu) tháng tù.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 21 (Hai mươi mốt) tháng cải tạo không giam giữ.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điều 36 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điều 35 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị O 25 (Hai mươi lăm) triệu đồng.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điều 35 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L1 24 (Hai mươi tư) triệu đồng.
Ngoài ra bản án còn xử lý về vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.
Ngày 02/11/2021 bị cáo Nguyễn Hữu Kh và bị cáo Bùi Quang Th làm đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ngày 04/11/2021 bị cáo Trần Thị Q có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Q rút đơn kháng cáo, các bị cáo Bùi Quang Th và Nguyễn Hữu Kh vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, nội dung kháng cáo của người bị hại có quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định, nội dung và hình thức đơn kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó được xem xét theo trình tự xét xử Ph thẩm.
Về nội dung: Căn cứ điểm a, đ khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đình chỉ xét xử Ph thẩm đối với bị cáo Trần Thị Q.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Quang Th và Nguyễn Hữu Kh, giữ nguyên phần hình phạt. Sửa bản án sơ thẩm để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Bùi Quang Th.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 56 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Quang Th 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt 02 tháng 23 ngày cải tạo không giam giữ về tội "Gây rối trật tự công cộng" quy đổi bằng 27 ngày tù chưa chấp H1nh của bản án số 500/2019/HSST ngày 30/10/2019 của Tòa án nhân dân Th phố V, tỉnh Nghệ An. Buộc bị cáo pH chấp H1nh hình phạt chung của hai bản án là 6 tháng 27 ngày tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Kh 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Về án phí: Các bị cáo Bùi Quang Th và Nguyễn Hữu Kh pH chịu án phí hình sự Ph thẩm. Bị cáo Trần Thị Q không pH chịu án phí hình sự Ph thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Phiên tòa mở lần thứ 2, các bị cáo Bùi Quang Th và Nguyễn Hữu Kh vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến H1nh xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật hình sự.
Về nội dung: Tại phiên tòa Ph thẩm bị cáo Trần Thị Q đã khai nhận toàn bộ H1nh vi phạm tội của mình và rút toàn bộ nội dung kháng cáo; các bị cáo Bùi Quang Th và Nguyễn Hữu Kh vắng mặt không có lý do. Chủ tọa phiên tòa đã công bố Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của các bị cáo Bùi Quang Th, Nguyễn Hữu Kh, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị O, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị L1, lời khai của các bị cáo có tại hồ sơ phù hợp với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:
Vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 21 tháng 02 năm 2021, tại nH1 Nguyễn Văn H ở xóm 8, xã N P, Th phố V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn H có H1nh vi tổ chức đánh bạc cho các bị cáo Bùi Quang Th, Nguyễn Thị O, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H1, Trần Thị Q, Nguyễn Hữu Kh, Nguyễn Thị L1 và một đối tượng tên Bin (không rõ lai L, địa chỉ cụ thể) bằng hình thức đánh "Ba cây" được thua mỗi ván từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng, có thu tiền hồ cho H thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Nghệ An bắt quả tang. Tổng số tiền các đối tượng đánh bạc là 25.200.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Thị L đánh bạc với O, Kh, Q, L1 tại thời điểm nghỉ không đánh là 11.800.000 đồng. Như vậy, H1nh vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội "Tổ chức đánh điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; Bùi Quang Th, Nguyễn Thị O, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H1, Trần Thị Q, Nguyễn Hữu Kh, Nguyễn Thị L1 phạm vào tội “Đánh bạc", số tiền các bị cáo đánh bạc được xác định là 25.200.000 đồng nên các bị cáo Bùi Quang Th, Nguyễn Thị O, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Hữu Kh, Nguyễn Thị L1 vi phạm khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; Riêng đối với Trần Thị Q phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm nên vi phạm vào điểm đ khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự, như bản án sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ và đúng pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Thị Q rút toàn bộ nội dung kháng cáo nên Đình chỉ xét xử Ph thẩm đối với bị cáo Trần Thị Q theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật hình sự. Bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Q.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Bùi Quang Th và Nguyễn Hữu Kh: Bản án sơ thẩm đã xem xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đều đã khai báo Th khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên xử phạt các bị cáo với mức án 06 tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo Bùi Quang Th phạm tội trong trường hợp tái phạm; Nguyễn Hữu Kh bị xử phạt H1nh chính và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý H1nh chính nên việc cách ly các bị cáo là đúng quy định của pháp luật. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo xin được hưởng án treo.
Về phần không kháng cáo: Theo biên bản xác minh tại UBND xã N P ngày 20/3/2021 của Công an Th phố V được biết bị cáo Bùi Quang Th chấp H1nh hình phạt 17 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo bản án số 500/2019/HSST ngày 30/10/2019 của Tòa án nhân dân Th phố V từ ngày 13/12/2019. Như vậy tính đến ngày 21/02/2021 bị cáo mới chấp H1nh được 14 tháng 7 ngày, còn pH chấp H1nh 02 tháng 23 ngày cải tạo không giam giữ, nhưng bản án sơ thẩm không tổng hợp hình phạt để buộc bị cáo pH chấp H1nh hình phạt chung của hai bản án vi phạm Điều 56 Bộ luật hình sự. Do đó sửa bản án để tổng hợp hình phạt, bị cáo Bùi Quang Th chưa chấp H1nh 02 tháng 23 ngày cải tạo không giam giữ, quy đổi bằng 27 ngày tù. Buộc bị cáo pH chấp H1nh hình phạt chung của hai bản án.
Về án phí: Các bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên pH chịu án phí hình sự Ph thẩm. Bị cáo Q không pH chịu án phí Hình sự Ph thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, đ khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đình chỉ xét xử Ph thẩm đối với bị cáo Trần Thị Q, bản án hình sự sơ thẩm số 379/2021/TLST-HS ngày 26/10/2021 của Toà án nhân dân Th phố V, tỉnh Nghệ An có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Trần Thị Q.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Quang Th và Nguyễn Hữu Kh, giữ nguyên phần hình phạt. Sửa bản án sơ thẩm để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Bùi Quang Th.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 56 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Quang Th 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt 02 tháng 23 ngày cải tạo không giam giữ về tội "Gây rối trật tự công cộng" quy đổi bằng 27 ngày tù chưa chấp H1nh của bản án số 500/2019/HSST ngày 30/10/2019 của Tòa án nhân dân Th phố V, tỉnh Nghệ An. Buộc bị cáo pH chấp H1nh hình phạt chung của hai bản án là 6 tháng 27 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi H1nh án, nhưng được trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/02/2021 đến ngày 02/3/2021.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Kh 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi H1nh án, nhưng được trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/02/2021 đến ngày 02/3/2021.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về án phí: Các bị cáo Bùi Quang Th và Nguyễn Hữu Kh mỗi bị cáo pH chịu 200.000 đồng án phí hình sự Ph thẩm. Bị cáo Trần Thị Q không pH chịu án phí Hình sự Ph thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án Ph thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - TAND Th phố V; - Công an Th phố V; - Chi Cục THADS Th phố V; - Các bị cáo; - UBND nơi các bị cáo cư trú; - Lưu HSVA, Tòa hình sự, VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PH THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Anh Sơn |